PDA

View Full Version : Tra cứu thông tin


hibicus
11-10-2007, 09:59 AM
Minamoto Yoshitsune (1159-1189)
Nguồn cảm hứng bất tận của những truyền thuyết và truyện kể

[Only Registered Users Can See Links]

Trong lịch sử Nhật Bản , có lẽ ko một nhân vật anh hùng nào lại được mến mộ và huyền thoại hóa nhiều như Yoshitsune, vị tướng tài giỏi nhất trong thời ḱ chiến tranh giữa hai ḍng họ Taira và Minamoto. Chỉ đáng tiếc, vị anh hùng này đă chết một cách rất bi thảm khi c̣n quá trẻ. Nhưng có lẽ chính cái chết ấy đă một phần tạo nên truyền thuyết, truyền thuyết về những chiến công dũng cảm của ông.

Yoshitomo (1123-1160) cha của Yoshitsune là người duy nhất trong ḍng họ Minamoto đă cùng Kiyomori ḍng họ Taira tham gia cuộc loạn Ḥgen nhằm dành lại quyền lực cho Thượng hoàng Go-Shirakawa hồi đầu thế kỉ 12.

Sau cuộc chính biến, Kiyomori thâu tóm toàn bộ quyền lực cho ḍng họ Taira. Yoshitomo bất măn v́ điều đó đă tiến hành cuộc loạn Heigi năm 1159 nhưng thất bại, ông chết trong trận chiến đó. Có truyền thuyết cho rằng nguyên nhân cuộc loạn Heigi một phần bởi người thiếp của Yoshitomo, mẹ đẻ của Yoshitsune, một người đẹp nổi tiếng thời bấy giờ.

Khi ḍng họ Minamoto chính biến thất bại, Kyomori đă ra tay tàn sát một cách dă man tất cả nhưng người có quan hệ với ḍng họ Minamoto, trong do có cả gia tộc Ise. Người con trai lớn của gia tộc mang đứa em trai nhỏ trốn thoát được nhưng sau đó ko lâu, em trai ông cũng bị giết v́ những kẻ sợ hăi quyền lực của Taira, Ise lưc lạc nhiều năm sau đó giống như duyên phận, ông gặp Yosshi và trở thành một trong những gia thần trung thành nhất của Yoshitsune (dũng thần Ise Saburo )

V́ sợ mang tiếng là tàn ác, Taira Kyomori đưa những đứa con của Minamoto đi đày ở nhiều nơi, gửi vào chùa chiền (vào thời đó, nếu đă xuống tóc đi tu th́ ko bao giờ trở lại thân phận vơ sĩ được nữa). Duy Yoshi c̣n quá nhỏ nên được ở lại cùng mẹ ḿnh là phu nhân Hisashi. Để bảo vệ các con trai của Minamoto, Hisashi đă t́nh nguyện trở thành thiếp của Kiyomori. Và thế là, mặc dù Yoshitomo bị giết nhưng ba đứa con của ông chỉ bị đi đày. Người con cả Yoritomo (1147-1199) bị đưa tới miền Đông, âm thầm gây dựng lực lượng tại đó chờ ngày phục hồi ḍng tộc. Nhưng sau khi Kyomori bắt Hisashi làm thiếp một thời gian hắn lại ép phải lấy một đại thần trong triều là Hasuko, rất may đó là một người tốt và nhân hâu, ông đối xử với bà và Yoshi rất tốt. Năm Yoshi lên 7 cậu bé đă tỏ ra thông ḿnh và nhanh nhẹn hơn người, điều đó khiên Kyomori vô cùng lo lắng, hắn đưa Yosi tới chùa Kurama và định sẵn sau này cậu sẽ sau này sẽ trở thành nhà sư. Lúc này, mối quan hệ giữa triều đ́nh và tăng lữ rất khăng khít. Địa vị của giới tăng lữ rất cao và có sức chi phối mạnh mẽ về chính trị. (Trong những tái liệu lịch sử khác nói rằng, Yoshi bị gửu đến chùa Kurama từ khi 2 tuổi)

Năm 1174, mới 15 tuổi, Yoshitsune đến náu thân và sống dưới quyền bảo hộ của Fujiwara no Hidehira, thống lănh của nhà Fujiwara tại Hirazumi,tỉnh Mutsu - một lănh địa nhỏ nhưng vô cùng giáu có và trung thành với ḍng họ Minamoto để lánh nạn và tránh sự truy đuổi của ḍng họ Taira.

Năm 1180 ,Yoshitsune nghe được tin anh trai của ḿnh là Minamoto no Yoritomo được nhà Mochihito giúp đỡ và chuẩn bị quân sự đấu với nhà Taira để tranh giành sức ảnh hưởng với Nhật hoàng.Yoshitsune đi t́m anh ḿnh để gia nhập nghĩa quân .Mặc dù chưa 1 lần gặp mặt,nhưng Yoshitsune đă giúp đỡ Yoritomo đánh thắng nh́u gia tộc để leo lên tước vị cao nhất là Shogun. Cùng trong năm đó, Yoritomo khởi binh chống lại ḍng họ Taira. Trận đánh đầu tiên quân của Yoritomo thất bại. Nhưng ông nhanh chóng chính đốn lực lượng tiến về sông Fuji quyết một trận với quân của Kiyomori. Truyền thuyết kể rằng quân Taira do tướng Kôrêmôri chỉ huy v́ nhầm lẫn tiếng cất cánh của bầy chim trên sông là tiếng quân Minamoto tập kích đă tháo chạy và thảm bại. Kôrêmôri trở thành vị tướng quân ngớ ngẩn nhất trong lịch sử Nhật Bản.

Trong khi đó , một thế lực khác của ḍng họ Minamoto cũng cất quân khởi nghĩa. Đó là Yoshinaka (1154-1184), anh họ của Yoshitsune. ông là một vị tướng quân tài ba, đánh đâu thắng đó, tiến thẳng vào kinh thành dồn ḍng họ Taira chạy dạt ra vùng Yashima ven biển. Nhưng Yoshinaka nhanh chóng thoả măn với thành công của ḿnh và trở nên ngạo mạn, dồn ép khống chế hoàng tộc phong chức trao quyền. Năm 1183, dưới sự kêu gọi của Thượng hoàng Go-Shirakawa, Yoritomo đă cử hai em trai là Noriyori và Yoshitsune tiến quân tới kinh đô thảo phạt Yoshinaka. Từ lúc này, vai tṛ của Yoshitsune mới thực sự xuất hiện trong lịch sử. Với tài năng của ḿnh cùng sự trung thành của các gia thần, ông đă tiêu diệt Yoshinaka rất nhanh chóng và được Hoàng tộc tin tưởng trọng dụng.

Năm 1184, ông theo lệnh Thượng hoàng truy đuổi nốt tàn quân của ḍng họ Taira đóng tại Yashima. Đó là trận đánh nổi tiếng trong lịch sử - Dannoura - tháng 4 năm 1185 tiêu diệt toàn bộ ḍng họ Taira. Truyền thuyết cho rằng trong trận đánh này, Yoshitsune đă sáng tạo ra một lối đánh rất mạo hiểm nhưng rất dũng cảm và hiệu quả. Ông dẫn một cánh quân đi xuyên rừng, tấn công từ trên núi xuống bằng kị binh, đánh thọc vào hậu quân doanh trại quân Taira, kết hợp với bộ binh ở chính diện xé nát đội h́nh địch. Bị tấn công bất ngờ từ phía ko ngờ tới, quân Taira tan ră nhanh chóng, chỉ c̣n một phần nhỏ lực lượng chạy ra biển, ko thể khôi phục lại Sau trận đánh vang dội này, Yoshitsune áp giải tù binh khải hoàn trở về và được phong làm tổng trấn Kyushu.

Là người đảm lược và trung thành, ông nhận được sự hậu thuẫn của triều đ́nh. Sự trọng dụng đó khiến Yoritomo (người anh cùng cha khác mẹ của ông) cảm thấy địa vị của ḿnh bị đe doạ. Trong giai đoạn xây dựng chính quyền sau chiến tranh, họ lại nảy sinh nhiều mâu thuẫn dẫn tới nghi kị lẫn nhau. Yoshitsune dần dần bị tước mất quyền lực. Sự bất b́nh về cách đói xử tàn tệ của người anh trai ngày càng lớn, thêm vào đó, chỉ mới 5 tháng sau ngày đại thắng, Yoritomo đă đưa thích khách tới ám sát Yoshitsune nhưng thất bại. Sự việc này khiến Thượng hoàng Go-Shirakawa, từ trước vốn rất tin cậy Yoshitsune bật đèn xanh cho ông tiến đánh Yoritomo. Thậm chí Thượng hoàng c̣n cử thêm quân tiếp viện cho Yoshitsune. Tuy nhiên, quân đội của Thượng hoàng chưa tới điểm họp quân th́ đă bị đắm tàu phải trở lại . Lực lượng của Yoshitsune th́ quá mỏng nên cuộc chính biến chưa diễn ra đă thất bại. Yoshitsune cùng vợ là Shizuka và gia thần trung thành Benkei lấy lư do tới thăm đền Tenṇji rồi biến mất. Chỉ trong năm 1185, Yoshitsune từ một người anh hùng danh tiếng lẫy lừng đă trở thành một kẻ trốn chạy.

Yoritomo tỏ thái độ căm thù em trai ra mặt và truy lùng Yoshitsune khắp nơi, khép ông vào tội phản nghịch. Năm 1186, Shizuka cùng nhiều chiến hữu của Yoshitsune bị bắt giữ nhằm t́m kiếm tung tích chồng bà. Chỉ ít lâu sau đó bà đă được giải thoát rồi cùng Yoshitsune chạy trốn vào vùng núi hoang vu Yoshino. Ở đó, ông được các tăng lữ trong các ngôi chùa trên núi che dấu. Nhưng Yoritomo lúc này đă nắm trọn quyền lực trong tay, chỉ c̣n Yoshitsune là mối lo ngại duy nhất nên quyết truy sát người em trai tới cùng. Ko thể ở lại Yoshino, Yoshitsune cùng thân hữu trở về nương náu tại Mutsu, nơi ông đă sống 5 năm trước khi tới với Yoritomo. Tại đây , lănh chúa Hidehira cùng con trai Yasuhira hết ḷng bảo vệ và giúp đỡ ông. Yoritomo đă dùng triều đ́nh uy hiếp Mutsu, buộc Yasuhira trục xuất Yoshitsune khỏi Mutsu. Trong t́nh thế tuyệt vọng, ngày 15/9/1189, Yoshitsune đă giết vợ và các con rồi tự sát để khỏi bị bắt. Ko lâu sau, Yasuhira cũng bị sát hại. Yoritomo đă lệnh đem thủ cấp em trai tới trước mặt ông để khẳng định cái gai cuối cùng cũng đă được gỡ bỏ.

Vậy những ǵ đă khiến Yoshitsune trở thành huyền thoại? Cuộc chiến giữa ḍng họ Minamoto và Taira là sự bắt đầu của một thời đại mới, thời đại của những vơ sĩ đạo mà Yoshitsune chính là mẫu mực đại diện cho tầng lớp mới này. Ko phải tới thời ḱ đó các vơ sĩ đạo mới xuất hiện. Nhưng đây là giai đoạn mà luật Samurai phát triển tới mức độ hoàn thiện, các Samurai bắt đầu có địa vị và quyền lực trong xă hội.

Những mối quan hệ gây xúc động mạnh mẽ, gắn bó Yoshitsune với những người dưới quyền sau này trở thành cơ sở cho những nguyên tắc đối xử giữa các vơ sĩ đạo. Bên cạnh đó là dư âm về cái chết bi thảm của ông.

Là biểu tượng của ḷng trung thành và tính dũng cảm, nhưng Yoshitsune ko thể tránh được một kết cục thê lương do chính anh trai ḿnh đem tới. Có thể nói, mối quan hệ giữa Yoritomo và Yoshitsune là một tấn thảm kịch, bắt đầu bằng chiến thắng của Yoshitsune và kết thúc bằng thắng lợi của Yoritomo, khi nh́n thấy đầu em trai ḿnh được đưa về Kamamura. Cái chết của Yoshitsune biểu hiện đỉnh cao của những âm mưu và thủ đoạn, của sự tàn bạo và bất nhân. Yoritomo sau này phát triển ḍng họ Minamoto tới đỉnh cao quyền lực nhưng cuối cùng cũng bị thay thế bởi một ḍng họ khác chỉ sau chừng 100 năm.

Lịch sử đă lựa chọn Yoritomo, nhưng Yoshitsune, chỉ có 30 năm tuổi đời, hơn 10 năm chinh chiến, lại được dân tộc lựa chọn. Người ta ví ông với người anh hùng Yamato thủa xưa được thần linh lựa chọn gây dựng nên đất nước Nhật Bản. Những người gia thần trung thành của ông, nhất là Benkei vẫn luôn sống trong những câu chuyện truyền miệng với những chiến tích huy hoàng. Và những truyền thuyết về người anh hùng Yoshitsune vẫn c̣n được thêu dệt và truyền tụng cho tới ngày hôm nay.

(Tổng hợp từ nhiều nguồn)

Về cuộc chiến giữa hai ḍng họ Minamoto và Taira, có thể t́m đọc "Truyện kể Heike"

Một số manga nói về Yoshitsune:
- Thiếu niên vương (Shana Oh Yoshitsune), ra chưa hết nhưng rất hay^^

- Truyền nhân Atula Phần II ( Shura no tsuki).Gồm nh́u câu chuyện nói về lịch sử của phái vơ thuật Mutsu ,và trong câu chuyện cuối cùng là cuộc đời của Yoshitsune. Trong manga này, tác giả để Yoshi sống ^^

- Quyền vương Tinawa

- Vùng đất gió cát (nói về kiếp sau của Yoshitsune và Shizuka cùng cuộc chiến chưa kết thúc với Yoritomo)

- Ryo (Phương Đinh Lăng - một giả thiết biến Yoshitsune thành nữ và kể về cuộc t́nh của Đinh Lăng với Biền khánh - Benkei). Cái manga ń, theo hibi th́ hơi bị nhảm^^. Một vấn đề nữa là Benkei được miêu tả khá xấu,>< (to lớn, cục mịch) trong phim, h́nh ảnh của Benkei rất thật ^^ c̣n trong manga ń th́ anh vô cùng đẹp trai.

[Only Registered Users Can See Links]
Benkie là người ngoài cùng, bên phải^^


Credit: lazy_catmoon, shou-chan (accvn)
Edit: hibicus

hibicus
11-10-2007, 04:44 PM
Minamoto Yoritomo - người được lịch sử lựa chọn.

Yorimoto cũng có một số phận khá bi thảm, khi bị đi đầy ở miền đông và bị giám sát chặt chẽ bởi một trong những gia tộc thân cận của Taira khi c̣n là một đứa trẻ. Bi kịch bắt đầu khi ông và con gái của gia tộc này đem ḷng yêu mến nhau, họ kết hôn lén lút và sinh được một con trai. Có những lúc ông đă thật sự từ bỏ ư định trả thù Taỉa mà sống một cuộc đời giản gị. Nhưng khi sự việc bị phát hiện, trưởng tộc đă ép con gái ḿnh kết hôn với một người khác và giết chết con trai của Yorimoto, khi đó mới lên 2.

Yorimoto ko bao giờ tha thứ cho điều đó, cuối cùng đă đứng lên chống lại Taira.

Mối quan hệ của Yorimoto và Yoshitsune
Mối quan hệ của hai anh em Yori và Yoshi vốn rất tốt, nhưng khi sự nghiệp hoàn thành, tài năng của Yoshi, những nghi kị bắt đầu xuất hiện và ngày càng trầm trọng.

Ngày 17/10/1185,Yoritomo cử người tới ám sát Yoshitsune nhưng ko thành công. Chuyện này vỡ lỡ làm ai cũng nghĩ rằng Yoshitsune sẽ dẫn binh thảo phạt Yoritomo. Nhưng Yoshitsune không những ko truy cứu chuyện này ông lại ẩn cư tại vùng núi Yoshino.

Yoritomo vẫn nhất mực ko buông tha cho Yoshitsune, ông huy động 300 tăng binh cùng quân đội tiến đánh núi Yoshino. Trong t́nh thế nguy hiểm đó ,Tadanobu và Isen Saburo - hai gia thần của Yoshitsune đă giả trang làm ông để đánh lạc hướng quân địch cùng với Ise Saburo. Tại đó,Tadanobu bị bao vây và chết thảm c̣n Ise tuy thoát được nhưng về sau cũng tự vận để bảo toàn danh dự.

C̣n Shizuka,vợ của Yoshitsune do mang thai nên đă ko thoát được truy đuổi và cuối cùng bị bắt tại Zao và rơi vào tay Yoritomo ,từ đó bắt đầu chuỗi ngày đắng cay....

Do sợ bị tiếng đời dị nghị nên Yoritomo ko dám giết Shizuka nhưng lại nghĩ ra 1 kế thâm độc để danh chính ngôn thuận giết bà . Biết rơ Shizuka đang mang thai nhưng vẫn ép bà phải nhảy múa dâng hương trong đại lễ mừng công của Yoritomo,nếu có sơ xuất sẽ bị giết. Nhờ tài trí của ḿnh,Shizuka ko những ko bị chém đầu mà c̣n bảo toàn được tánh mạng về sau. Mấy tháng sau, bà sinh hạ 1 bé trai nhưng theo truyền thuyết Yoritomo đă hạ lệnh đem đứa bé đó đi chôn sống . C̣n Shizuka được tha bổng trở về kinh thành.

Mùa xuân 1187,sau 7 năm trời rời khỏi Mutsu cuối cùng Yoshitsune đă trở về vùng đất của Fujiwara ,sống dưới sự bảo hộ của Fujiwara no Hidehira.

Cũng tháng 10 năm đó,1187,trụ cột nhà Fujiwara là Hidehira chết v́ bệnh .Con trai ông là Yasuhira lên kế ngôi, năm đó Hidehira thọ 66 tuổi .
Năm 1189, Yasuhira do không chịu nổi sức ép từ Yoritomo nên đă dẫn theo 100 binh mă tập kích hành cung của Yoshitsune. Yoshitsune phóng hỏa hành cung rồi sau đó cùng vợ con tự sát để bảo toàn danh dự.

Sơ lược về triều đại Kamakura của nhà Minamoto sau này

Sau khi Yoritomo trở thành vị shogun (tướng quân, vào thời đó tương đương với vua) đầu tiên của Nhật Bản bắt đầu triều đại Kamakura. Sau khi Yoritomo chết,cha vợ cùng vợ ông lập Minamoto no Yoriie lên làm Shogun, nhưng thực chất chỉ là bù nh́n, quyền lực rơi vào tay nhà Hojo (Cha vợ của Yoshitomo là Hojo Tokimasa,c̣n vợ là Hojo Masako)

Chính thức mà nói nhà Minamoto chỉ nắm quyền qua 2 đời, sau này đă thuộc về tay gia tộc Hojo.Theo dân gian truyền tụng có lẽ v́ trước đây Yoritomo đă giết quá nhiều người có công với ḿnh, trong đó có Yoshitsune nên sau khi chết 2 người con của Yoritomo đă chết thảm dưới tay những người thuộc họ Hojo.

Từ đó,những trận chiến tranh giành quyền lực bắt đầu diễn ra nhưng cũng v́ thế đất nước Nhật Bản bước sang những trang sử mới .

Trải qua 500 năm,lịch sử Nhật lại 1 lần nữa chuyển ḿnh,bắt đầu thời đại mới,thời đại của các anh hùng,vơ sĩ lưu danh thiên cổ. Triều đại shogun lâu nhất trong lịch sử - Mạc phủ Tokugawa của Ieyasu Tokugawa với trận chiến Sekigahara lẫy lừng .... Đó cũng là thời đại xuất hiện những huyền thoại mới của Nhật Bản - Myamoto Mushashi và Sasaki Kojoro (mong là một lúc nào đó sẽ được xem một bộ phim lịch sử về hai nhân vật này^^)

hibicus
11-11-2007, 04:28 PM
Saito Musashibo Benkei (西塔武蔵坊弁慶, 1155 – 1189)

[Only Registered Users Can See Links]

Tên thường gọi là Benkei (弁慶), là một trong tứ gia thần của Yosshitsune (hay c̣n được gọi là tứ đại thiên vương), người đă sống và chết v́ Yoshi, mệnh danh là trung thần

Trước khi trờ thành gia thần của Yosshi, Benkei là một Sohei (tăng binh). Ông được miêu tả là một người với sức mạnh khủng khiếp và long trung thành ko ai sánh được, giống như Yoshitsune, ông xuất hiện rất nhiều trong các câu chuyện dân gian của Nhật. Cuộc đời của ông được miêu tả giống như một huyền thoại trong drama Noh và Kabuki.

Câu chuyện về sự ra đời của Benkei cũng rất khác nhau, Có người nói rằng cha ông là người đứng đầu một ngôi chùa và mẹ ông là con gái của một thợ rèn. Có người lại nói rằng ông là con trai của thần linh. Nhưng các câu chuyện kể đều miêu tả ông như một quái vật. sinh ra đă có đủ răng và một mái tóc dài. Khi c̣n nhỏ, ông có tên là Oniwaka (鬼若) - có nghĩa là "demon/ogre child".

Khi c̣n nhỏ ông sống trong chùa và chỉ qua lại giữa các ngôi chùa của Nhật. Suốt thời ḱ đó, hệ thống chùa chiền của Nhật đóng vai tṛ quan trọng đối với chính quyền và văn hóa. Giống như các tăng lữ khác, Benkei được huấn luyện để trở thành một tăng binh. Năm 17 tuổi, người ta nói rằng ông đă cao 2m (6.6 feet). Ông rời chùa và tham gia vào Yamabushi, một tổ chức các tăng binh sống trên núi, những người luôn mang bên ḿnh một cái mũ đen. Trong những bản miêu tả Benkei th́ ông đều đang mang mũ nhưng mà là mũ trắng ^^

Benkei đứng ở cầu Gojo tại Kyoto và cướp kiếm của những kiếm sĩ đi qua, khi ông đă giành được cây kiếm thứ 999 th́ ông gặp Minamoto no Yoshitsune và bị đánh bại. Từ đó trở đi, ông trở thành gia thần của Yoshitsune, và cùng chúa quân của ḿnh đánh bại ḍng họ Taira.

Khi Yoshi và gia đ́nh bị bao vây tại thành của Koromogawa no tate. Benkei đă đứng trước cổng chính để bảo vệ chủ nhân của ḿnh. Truyền thuyết nói rằng những tên lính không dám bước qua cánh cổng đó, hoặc đều chết một cách nhanh chóng dưới tay của Benkei. Cuối cùng chúng dùng cung tên để làm trọng thương Benkei và giết chết ông, điều đó được biết đến sau này là "Standing Death of Benkei (Benkei no Tachi Ōjō)"(弁慶の立往生).

Ḷng trung thành và danh dự của Benkei đă khiến ông trở thành một huyền thoại của Nhật. Có rất nhiều phim và kịch được dựng nói về ông như Kanjinchos, Kabuki, The Men Who Tread on the Tiger's Tail, ông cũng sống trong rất nhiều các truyền thuyết và truyện kể dân gian.

Nói về vai diễn của Matsudaira Ken (vai Benkei), ông xuất hiện khá sớm cùng Yoshi, ấn tượng đầu tiên của hibi về ông là hơi bị già ^^. V́ thật ra Benkei chỉ hơn Yoshi chừng 3 tuổi nhưng trong phim giống ông chú quá ^^. Dù vậy càng nh́n sẽ thấy tạo h́nh của ông rất hợp với vai Benkei. Ko dám nhận xét nhiều v́ chưa xem ông xuất hiện nhiều.

Credit: wiki
Trans: hibicus

hibicus
11-14-2007, 05:27 PM
Ise Saburo

Gia thân thứ hai mà Yosshi thu nhận (mệnh danh là dũng thần- người ko lùi bước trước bất cứ kho khắn, nguy hiểm nào ^^)
Con trai lớn của gia tộc Ise.
Cha ông và cha Yoshitsune là bạn tốt, hai gia tộc Ise và Minamoto có mối quan hệ rất khăng khít với nhau. V̀ vậy khi Minamoto bị Taira đánh bạn, trong kế hoạch thanh trừng những ḍng họ thân cận với minamoto trước đây, Kyomori đă ra tay với gia tộc Ise.

Ise Saburo là người duy nhất trốn thoát, khi đó ông vẫn chỉ là một đứa trẻ, trong Shana Oh Yoshitsune, Hirofumi c̣n viết một câu chuyện khác: Saburo mang em trai mới lên 5 bỏ trốn, họ trở về quê nhà. Khi cuộc sống tưởng chừng đă b́nh yên hơn th́ Saburo tận mắt thấy người chú của ḿnh giết chết em trai ḿnh v́ gia tộc Taira. Saburo bỏ chạy, ông không c̣n tin vào bất cứ ai, thậm chí trở thành sơn tặc cho đến khi gặp Yoshitsune (khi đó đang trên đường đến Hiraizumi). Ko phải v́ Yosshi là con trai Minamoto (người mà Saburo vô cùng kính yêu) mà chính tài năng và đức độ của Yosshi khiến Saburo muốn tin tưởng vào con người một lần nữa.

Để giúp Yoshi trốn thoát khi bị vây khốn trên núi Yoshino, ông mà một gia thần khác của Yoshi phải bỏ mạng (thật ra th́ ông trốn thoát, nhưng để bảo toàn danh sự ông đă tự sát)

Trong phim, vai Ise Saburo do Nanbara Kiyotaka đóng, và v́ hibi mới con đến ep 8 ah, chưa đến khúc có ông nên ko biết vai này thế nào, và hoàn cảnh xuất thân của ông có khác với câu chuyện của Hirofumi không^^. Sẽ sửa lại khi đă xem đến khúc có ông ^^

Muốn t́m thêm tư liệu về Soburo nhưng khó quá trời..swe..

hibicus
11-23-2007, 08:46 PM
Hai gia thần c̣n lại của Yosshi, một người th́ t́m nát cả cái google mà ko thấy ǵ ngoài cái tên, c̣n một người th́ t́m được một lúc 5 trang lận^^, chưa dịch được.
Nhớ ra Ka từng nói vai của Tsubi ngầu lắm^^, nên t́m vai của anh, công nhận là ngầu thiệt

Nasu no Yoichi (那須与一?)(c. 1169-c. 1232)

Yoichi là một Samurai của gia tộc Minamoto trong cuộc chiến Genpei. Ông vô cùng nổi tiếng trong trận chiến Yashima năm 1184. Theo Heike Monogatari, kẻ địch của ḍng họ Taira đă đặt những cây quạt tên đỉnh cột buồn những con thuyền của họ nhằm bảo vệ chúng khỏi cung tên,
Kế hoạch này tỏ ra có hiệu quả, để dành thắng lợi, những chiến binh Minamoto phải cố gắng bắn hạ chúng. Nasu đă bắn hạ những cáy quạt này chỉ bằng một mũi tên.^^

Sau cuộc chiến Genpei, Yoichi trở thành thành chủ của thành Tottori nhưng ông đă đánh mất vị trí của ḿnh vào tay của Kajiwara Kagetoki sau khi bị đánh bại trong một cuộc thi săn. Yoichi rời khỏi Echiggo , sau cái chết của Minamoto no Yoritomo, Natsu trở thành một tăng nhân của giáo phái Jodo Shinshu.

Ông qua đời năm 1232 khi 64 tuổi với nghi lễ an táng như an táng cho một chiến binh của trận chiến Genpei năm nào.

credit: wiki

akachan
07-29-2008, 11:10 PM
Minamoto no Yoshitomo

Minamoto no Yoshitomo (源 義朝) (1123 – 11 tháng 2, 1160) là tộc trưởng của gia tộc Minamoto và là một vị tướng vào cuối thời Heian trong lịch sử Nhật Bản. Con tai ông, Minamoto no Yoritomo trở thành Shogun và người sáng lập Mạc phủ Kamakura, Mạc phủ đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản.

Nổi loạn Hōgen

Cuộc nổi loạn Hōgen bùng nổ năm 1156, các thanh viên của hai gia tộc samurai Minamoto và Taira được gật đầu ra hiệu tham gia giao chiến. Yoshitomo cùng với Taira no Kiyomori ủng hộ Thiên hoàng Go-Shirakawa và Fujiwara no Tadamichi, trong khi cha ông là Minamoto no Tameyoshi, khi ấy là người đứng đầu gia tộc Minamoto, cùng với người con c̣n trẻ Minamoto no Tametomo và Taira no Tadamasa về phe Pháp hoàng Sutoku và Fujiwara no Yorinaga.

Yoshitomo, đánh bại cha ḿnh và quân đội của Sutoku và Yorinaga, trở thành người đứng đầu gia tộc Minamoto và dành lấy quyền lực chính trị cho ḿnh ở kinh đô Kyoto. Tuy vậy, bất chấp nỗ lực xin ân xá cho cha ḿnh, Tameyoshi vẫn bị xử tử. Hậu của của loạn Hogen khiến hai nhà Minamoto và Taira trở thành hai đối thủ chính trí mạnh nhất trong nước.

Nổi loạn Heiji

Ba năm sau, vào năm 1159, Yoshitomo và Fujiwara no Nobuyori giam lỏng Go-Shirakawa và giết thuộc hạ của ông, học giả Fujiwara no Michinori trong cái gọi là nổi loạn Heiji. Yoshitomo giận dữ v́ nhà Taira đă nhận được sự ân sủng của triều đ́nh sau loạn Hogen bất chấp những hy sinh của nhà Minamoto. Cuối cùng, Taira no Kiyomori, với sự ủng hộ của Go-Shirakawa, đánh bại Yoshitomo và giết hai đứa con đầu của ông và Nobuyori, giải thoát cho Go-Shirakawa.

Trong khi chạy trốn từ Kyoto, ở tỉnh Owari, Yoshitomo bị thuộc hạ của ḿnh phản bội và bị giết. Những người con trai c̣n lại của ông, Yoritomo cùng với Minamoto no Yoshitsune và Minamoto no Noriyori sau đó được Kiyomori tha mạng và lưu đày.

Người ta nói rằng Yoshitomo bị giết khi không mang vũ khí khi đang tắm dưới suối nước nóng. Mộ của ông ở tỉnh Aichi được bao quanh bởi nhiều thanh kiếm bằng gỗ, theo truyền thuyết, những lời cuối cùng của ông là "Giá như ta có một thanh bokuto...".

Copy toàn bộ từ wiki

akachan
08-05-2008, 11:09 PM
Sự kiện ở ep 2

Chiến tranh Genpei

[Only Registered Users Can See Links]

Chiến tranh Genpei (kanji: 源平合戦, romaji: Genpei kassen, Genpei gassen) (1180-1185) là cuộc chiến giữa hai gia tộc Taira và Minamoto vào cuối thời kỳ Heian của Nhật Bản. Chiến tranh kết thúc với sự thất bại của gia tộc Taira và sự thành lập của mạc phủ Kamakura bởi Minamoto Yoritomo vào năm 1192.

Cái tên Genpei xuất phát từ sự kết hợp cách đọc trong kanji từ kanji 'Minamoto' (源, Nguyên) và 'Taira' (平, B́nh). Trận chiến này c̣n được gọi là Loạn Jishō-Juei(治承寿永の乱, Jishō-Juei no ran).

Cuộc chiến bắt nguồn từ việc Minamoto đưa ra một ứng cử viên khác cho ngai vàng, đối đầu với ứng cử viên của gia tộc Taira. Bắt đầu từ Trận Uji diễn ra ở ngoại ô Kyoto, kéo dài 5 năm, cuối cùng dẫn đến thắng lợi lớn của Minamoto trong trận thủy chiến Dan-no-ura.

Bối cảnh

Chiến tranh Genpei là đỉnh cao của cuộc xung đột kéo dài hàng thập kỷ giữa hai gia tộc Taira và Minamoto nhằm giành quyền thống trị triều đ́nh, và rộng hơn, là thống trị nước Nhật. Trong cuộc Nổi loạn Hōgen[1] và Nổi loạn Heiji[2] các thập kỷ trước đó, nhà Minamoto cố giành lại quyền lực từ tay nhà Taira nhưng thất bại. Nhà Taira bắt đầu tiến hành hàng loạt cuộc hành quyết, cố tiêu diệt kẻ thù của ḿnh.

Năm 1177, quan hệ giữa nhà Taira và Thượng hoàng Go-Shirakawa trở nên căng thẳng cao độ, và sau đó Thiên hoàng cố làm cuộc đảo chính để lật đổ Daijō Daijin (Thái Chính Đại Thần, tương tự như Thủ tướng), Taira no Kiyomori. Kiyomori đánh bại cựu hoàng và băi bỏ hệ thống Insei (viện chính). Điều này làm nảy nở tinh thần chống nhà Taira mạnh mẽ.

Ngày 21 tháng năm 1180, Taira no Kiyomori đặt cháu trai ḿnh, Antoku (lúc đó mới chỉ 2 tuổi), lên ngôi, sau khi Thiên hoàng Takakura thoái vị. Con trai của Go-Shirakawa, Hoàng tử Mochihito, cảm thấy rằng ḿnh đă bị gạt ra khỏi vị trí chính đáng của ḿnh trên ngai vàng, và, với sự giúp đỡ của Minamoto no Yorimasa, gửi lời hiệu triệu đến nhiều gia đ́nh samurai và tu viện Phật giáo vào ngày 5 tháng 5.

Tháng 6, Kiyomori dời đô đến Fukuhara (ngày nay là Kobe), với hy vọng thúc đẩy giao thương với nhà Tống Trung Quốc, và ngày 15 tháng 6, Hoàng tử Mochihito chạy đến Kyoto trú ẩn ở Mii-dera.

Bùng nổ chiến sự

[Only Registered Users Can See Links]

Phượng hoàng điện ở Byōdō-in, nơi Yorimasa mổ bụng tự sát (seppuku).Các hành động của Taira no Kiyomori làm sâu sắc thêm sự hận thù của nhà Minamoto với gia tộc Taira, một lời hiệu triệu được Minamoto no Yorimasa và Hoàng tử Mochihito gửi đi. Không biết ai đứng đằng sau sự tập hợp này, Kiyomoti ra lệnh bắt giữ Mochihito, người đang trú ẩn tại đền Mii-dera. Các nhà sư Mii-dera không thể đảm bảo cho ông sự bảo vệ cần thiết, v́ vậy ông bị buộc phải bỏ đi. Sau đó ông bị quân đội Taira đuổi đến Byōdō-in, ngoại ô Kyoto. Chiến tranh bắt đầu sau đó, với một cuộc chạm trán kịch tính ở trên và xung quanh cây cầu bắc qua sông Uji. Trận chiến kết thúc với lễ nghi tự sát của Yorimasa trong Byōdō-in và Mochihito bị bắt và xử tử ít lâu sau đó.

Đây là thời điểm Minamoto no Yoritomo nắm quyền lănh đạo gia tộc Minamoto và bắt đầu đi khắp thôn quê tập hợp đồng ḿnh. Khởi hành từ tỉnh Izu, hướng đến đèo Hakone, ông bị nhà Taira đánh bại trong Trận Ishibashiyama. Tuy vậy, ông cũng đến được tỉnh Kai và tỉnh Kozuke, nơi gia tộc Takeda và các gia đ́nh bạn hữu khác giúp đẩy lui quân Taira. Trong khi đó, Taira no Kiyomori, báo thù các nhà sư ở Mii-dera và những người khác, bao vây Nara, đốt phá phần lớn thành phố.

Giao tranh tiếp diễn năm sau đó, Minamoto no Yukiie đánh lén vào quân đội của Taira no Tomomori trong Trận Sunomatagawa nhưng không thành công. Ông bị họ đuổi cho đến Yahahigawa, phá hủy cây cầu qua sông để làm chậm bước tiến của quân nhà Taira. Ông bị đánh bại và phải rút lui một lần nữa, nhưng Taira no Tomomori bị ốm và hoăn lại việc truy kích Yukiie.

Taira no Kiyomori chết bệnh vào mùa xuân năm 1181, và cùng lúc đó, Nhật Bản bắt đầu phải hứng chịu một nạn đói kéo dài cho đến năm sau. Nhà Taira chuyển hướng tấn công sang Minamoto no Yoshinaka, anh em họ của Yoritomo, người khởi quân từ phía Bắc nhưng không thành công. Gần 2 năm, hai bên ngừng chiến, chỉ tiếp tục vào mùa xuân năm 1183.

Chiến sự đổi chiều

Minamoto no Yoritomo, nghi ngờ sức mạnh của người anh em ḿnh, phát động nhiều đợt tấn công chống lại Yoshinaka. Yoshinaka muốn chiếm các vùng đất của Yoritomo, vốn trước đây rất lâu thuộc về cha của Yoshinaka. Mặc dù hai người ḥa giải với nhau và đồng ư rằng nên tập trung vào kẻ thù chung, nhà Taira, kẻ thù này vẫn mạnh trong suốt cuộc chiến. Bị ép phải công nhận Yoritomo là người đứng đầu gia tộc và gửi con trai ḿnh Yoshitaka đến Kamakura làm con tin, Yoshinaka sẽ không thực sự sát cánh cùng người anh em họ trong phần lớn thời gian của chiến tranh. Ông muốn tự ḿnh đánh bại nhà Taira và tiến vào Kyoto trước Yoritomo, tuyên bố chiến thắng và giành lầy danh dự và quyền lực.

Để xoa dịu mối nghi ngờ về sự phụ bạc hay phản bội của Yoritomo, Yoshinaka sống sót sau một trận tấn công vào thành của ông ở Hiuchiyama bởi Taira no Koremori và chạm trán với Koremori một lần nữa trong Trận Kurikara. Chiến thắng của Yoshinaka cho nhà Minamoto tại Kurikara, hay c̣n gọi là Trận Tonamiyama, là bước ngoặt của cuộc chiến. Qua chiến thuật sáng tạo, các đơn vị tài giỏi của quân đội ông và hàng loạt các chiến thuật nghi binh, lừa địch, Yoshinaka gián một đ̣n đau với nhà Taira, khiến họ phải bỏ chạy, hoảng loạn và mất tinh thần.

Thất bại của nhà Taira tại Kurikara nặng nề đến mức mà vài tháng sau, họ bị vây hăm tại Kyoto, với Yoshinaka tiến về thành phố từ hướng Đông Bắc và Yukiie từ phía Đông. Cả hai lănh đạo của nhà Minamoto hầu như không gặp sự kháng cự trên đường hành quân về thủ đô và giờ buộc nhà Taira phải tháo chạy khỏi thành phố. Taira no Munemori, tộc trưởng từ khi cha ông Kiyomori qua đời, dẫn quân, cùng với Thiên hoàng Antoku trẻ tuổi và ba thần khí của Nhật Bản, đến thành tŕ của gia tộc ḿnh ở phía Tây, đảo Honshū và Shikoku.

Sự thù địch ở trong nội bộ nhà Minamoto

Nhà Taira nổi lửa đốt cung điện Rokuhara và các quận xung quanh, bỏ lại Minamoto no Yoshinaka với chỉ quân đội của của các tỉnh xung quanh kinh đô. Được tiếp thêm sức mạnh từ sự ủy nhiệm của Thiên hoàng Go-Shirakawa truy kích nhà Taira và tiêu diệt họ, Yoshinaka một lần nữa cố giành lấy quyền kiểm soát gia tộc Minamoto và dành lại vùng đất của tổ tiến từ hai người anh em họ Yoritomo và Yoshitsune.

Trong khi đó, nhà Taira chốn chạy, lập nên một triều đ́nh tạm thời tại Dazaifu ở Kyūshū, cực Nam quần đảo Nhật Bản. Họ sớm bị quân nổi dậy địa phương, khích lệ bởi Thiên hoàng Go-Shirakawa, đánh đuổi khỏi đây và phải đến trú ẩn ở Yashima, một ḥn đảo nhỏ ở biển Seto.

Yoshinaka cử quân đuổi theo nhà Taira, trong khi đó, ông dẫn một đội quân thứ 2 quay về Kamakura để làm cản trở hành động của người anh em họ. Trong khi quân đội của ông thua nhà Taira tại Mizushima, Yoshinaka âm mưu với Yukiie đánh chiếm kinh đô, bắt giữ Thiên hoàng, thậm chí có thể lập một triều đ́nh mới ở phía Bắc. Tuy vậy, Yukiie tiết lộ kế hoạch này với Thiên hoàng, rồi lại báo cho Yoritomo.

Bị Yukiie phản bội, Yoshinaka giành quyền chỉ huy Kyoto và, đầu năm 1184, nổi lửa đốt Hōjūjidono, bắt giam Thiên hoàng. Minamoto no Yoshitune đến ngay sau đó cùng người anh trai Noriyori và một đội quân lớn, đánh đuổi Yoshinaka khỏi thành phố. Sau khi giao chiến với những người anh em họ tại cây cầu bắc qua sông Uji, nơi chiến tranh bắt đầu, Yoshinaka trụ lại đến trước trận cuối cùng tại Awazu, tỉnh Ōmi.

Những trận đánh cuối cùng

Khi quân đội Minamoto thống nhất rời Kyoto, nhà Taira bắt đầu củng cố các vị trí của ḿnh tại nhiều nơi trong và xung quanh biển nội Seto, vốn là đất tổ tiên của họ. Họ nhận được thư của Thiên hoàng rằng nếu họ đầu hàng trước ngày mồng 7 tháng 2, nhà Minamoto sẽ bị thuyết phục đồng ư đ́nh chiến. Đ̣ là một tṛ hề, v́ cả nhà Minamoto lẫn Thiên hoàng đều không đợi đến ngày thứ 8 mới tấn công. Tuy nhiên, chiến thuật này cho Thiên hoàng một cơ hội để lấy lại các thần khí và làm sao lăng sự lănh đạo của nhà Taira.

Quân đội Minamoto, dẫn đầu bởi Yoshitsune và Noriyori, thực hiện cuộc tấn công lớn đầu tiện tại Ichi-no-Tani, một trong những thành chính của nhà Taira tại đảo Honshū. Thành bị bao vây, và quân Taira rút lui đến Shikoku. Tuy nhiên, nhà Minamoto không chuẩn bị tấn công Shikoku; 6 tháng đ́nh chiến sau đó rồi nhà Minamoto mới tiến tiếp. Mặc dù trên đường rút chạy, nhà Taira có lợi thế riêng ở quê hương, và giỏi thủy chiến hơn đối thủ của ḿnh nhiều.

Gần một năm sau trận Ichi-no-Tani, thành chính của nhà Taira tại Yashima mới bị tấn công. Thấy lửa hiệu từ trên đảo Shikoku, nhà tarai hy vọng một cuộc tấn công trên bộ và lên thuyền của ḿnh. Tuy vậy, đây là đ̣n nghi binh của nhà Minamoto, họ vẫn chờ với thủy quân của ḿnh. Thành Yashima thất thủ, cùng với cung điện hoàng gia tạm thời được nhà Taira xây dựng, tuy vậy, nhiều người đă chạy thoát cùng với thần khí và Thiên hoàng Antoku.

Chiến tranh Genpei kết thúc một tháng sau đó, sau trận Dan-no-ura, mổ trong những trận đánh nổi tiếng và quan trọng nhất trong lịch sử Nhật Bản. Nhà Minamoto chạm trán hạm đội nhà Taira tại en Shimonoseki, một khoảng nước nhỏ phân cách giữa đảo Honshu và đảo Kyūshū. Sau hàng loạt cung tên, sáp chiến bắt đầu. Thủy triều đóng vai tṛ quan trọng trong sự phát triển của trận đánh, ban đầu mang lợi thế cho nhà Taira, những thủy thủ kinh nghiệm và tài giỏi hơn, và sau đó là cho nhà Minamoto. Lợi thế của nhà Minamoto được nâng cao nhiều nhờ sự phản bội của Taguchi Shigeyoshi, một tướng quân của nhà Taira nói ra vị trí của Thiên hoàng Antoku và thần khí. Nhà Minamoto chuyển sự chú ư của ḿnh đến con thuyền của Thiên hoàng, và trận đánh nhanh chóng chuyển hướng có lợi cho họ.

Quy tắc hải chiến thời đó quy định không bắn vào người lái thuyền, chỉ bắn chết vơ sỹ samurai, tức là thành viên chiến đấu. Sở dĩ như vậy, v́ người lái thuyền đều là dân chài, không phải quân lính, nếu bắn chết họ th́ sau này họ sẽ không lái thuyền cho quân đội nữa, thủy quân cũng không h́nh thành nổi. Tuy vậy, Yoshitsune vốn là người miền Đông, không nghĩ xa tới tương lai thủy quân, nên đă phá lệ cũ, nhằm bắn người lái thuyền trước nhất. Người lái thuyền không mặc giáp trụ, nên bị trúng tên th́ bị thương nặng không lái thuyền được nữa. V́ vậy, họ sợ bỏ chạy hết, khiến đoàn thuyền của Taira không xoay xở được. Các tướng Taira đă thốt lên “Yoshitsune là đồ hèn!” mà chết đi..

Nhiều samurai của nhà Taira, cùng với Thiên hoàng Antoku và bà nội ông Taira no Tokiko, góa phục của Taira no Kiyomori, trẫm ḿnh xuống làn sóng nước thay v́ sống để thấy sự thất bại cuối cùng của gia tộc ḿnh về tay nhà Minamoto.

Kết quả của chiến tranh Genpei

Nhà Taira bị tiêu diệt, và chiến thắng của nhà Minamoto theo sau đó bằng việc thành lập Mạc phủ Kamakura. Mặc dù Minamoto no Yoritomo không phải là người đầu tiên giữ tước vị Shogun, ông là người đầu tiên giữ vị trí này với vai tṛ ở tầm quốc gia. Sự kết thúc của chiến tranh Genpei và mở đầu Mạc phủ Kamakura đánh dấu sự nổi lên của quyền lực quân sự (samurai) và sự suy sụp của quyền lực Thiên hoàng, người bị buộc phải chủ tọa mà không có quyền lực chính trị hay quân sự, cho đến thời Minh Trị Duy Tân 650 năm sau đó.

Thêm vào đó, trận chiến này và kết quả của nó khiến cho 2 màu đỏ và trắng, màu của gia tộc Taira và Minamoto, một cách tương đối, trở thành màu quốc gia của Nhật Bản. Ngày nay, hai màu này có thể thấy trên quốc kỳ Nhật, và trên cờ, bảng trong sumo và các hoạt động truyền thống khác.

Copy toàn bộ từ wiki

akachan
08-05-2008, 11:14 PM
Các trận đánh

[Only Registered Users Can See Links]

1180 Trận Uji lần thứ nhất – được coi là trận đầu tiên trong chiến tranh Genpei, các nhà sư ở Byodoin chiến đầu cùng phe với Minamoto no Yorimasa.
1180 Cuộc vây hăm Nara - Nhà Taira đốt các đền chùa, cắt tiếp tế kẻ thù của ḿnh.
1180 Trận Ishibashiyama – Trận đánh đầu tiên của Minamoto no Yoritomo chống lại nhà Taira. Minamoto Yoritomo thua trận.
1180 Trận Fujigawa - Nhà Taira tưởng nhầm một đàn chim nước là quân phục kích của nhà Minamoto trong đêm, và rút chạy trước khi có bất kỳ trận đánh nào diễn ra.
1181 Trận Sunomatagawa – nhà Taira đánh lui được một cuộc phục kích vào ban đêm nhưng rút lui.
1181 Trận Yahagigawa - nhà Minamoto, rút lui từ Sunomata, cố tạo lập được chỗ đứng.
1183 Cuộc vây hăm Hiuchi - nhà Taira tấn công thành nhà Minamoto.
1183 Trận Kurikara – xu thế chiến tranh đổi hướng có lợi cho nhà Minamoto.
1183 Trận Shinohara - Yoshinaka truy kích quân Taira từ Kurikara
1183 Trận Mizushima – nhà Taira chặn đứng quân Minamoto đang tiến đến Yashima.
1183 Cuộc vây hăm Fukuryuji - nhà Minamoto tấn công một ngôi thành của nhà Taira.
1183 Trận Muroyama - Minamoto no Yukiie cố gắng nhưng không thể bù đắp lại cho trận Mizushima.
1184 Cuộc vây hăm Hojujidono - Yoshinaka nổ lửa đốt Hojuji-dono và bắt cóc Emperor Go-Shirakawa.
1184 Trận Uji thứ hai - Yoshinaka bịYoshitsune và Noriyori đánh bật khỏi kinh đô.
1184 Trận Awazu - Minamoto no Yoshinaka bị Yoshitsune và Noriyori đánh bại và giết chết.
1184 Trận Ichi-no-Tani - nhà Minamoto tấn công một trong những thành quan trọng của nhà Taira.
1184 Trận Kojima – quân Taira chạy khỏi Ichi-no-Tani bị Minamoto no Noriyori tấn công.
1185 Trận Yashima - quân Minamoto tấn công thành tŕ của kẻ thù, ở ngoài Shikoku.
1185 Trận Dan-no-ura – hải chiến quyết định kết thúc chiến tranh.

Các nhân vật chính trong chiến tranh Genpei

Gia tộc Minamoto (c̣n gọi là "Genji")

[Only Registered Users Can See Links]

Minamoto no Yoritomo, tranh treo tường năm 1179 của Fujiwara no TakanobuNhà Minamoto là một trong bốn gia tộc lớn chi phối nền chính trị Nhật Bản suốt thời Heian (794-1185). Tuy vậy, họ bị nhà Taira tàn sát trong cuộc Nổi loạn Heiji năm 1160. Minamoto no Yoshitomo là người đứng đầu gia tộc vào thời điểm đó; sau thất bại về tay Taira no Kiyomori, hai con trai của ông bị giết, và người con thú ba, Minamoto no Yoritomo bị lưu đày. Sau lời hiệu triệu của Hoàng tử Mochihito và Minamoto no Yorimasa năm 1180, gia tộc này tập hợp lại và củng cố quyền lực. Chiến tranh Genpei chứng kiến việc gia tộc Minamoto đánh bại gia tộc Taira và giành quyền thống trị toàn bộ đất nước.

Minamoto no Noriyori (源範頼), tướng quân, em trai của Yoritomo.
Minamoto no Yorimasa (源頼政), người đứng đầu gia tộc lúc bắt đầu chiến tranh.
Minamoto no Yoritomo (源頼朝), tộc trưởng sau khi Yorimasa chết.
Minamoto no Yoshitsune (源義経), em trai của Yoritomo, tướng tổng tư lệnh của gia tộc.
Minamoto no Yukiie (源行家), tướng quân, bác của Yoritomo.
Đồng minh và chư hầu:
Emperor Go-Shirakawa (後白河), Thượng hoàng, ẩn đế.
Hoàng tử Mochihito (以仁王).
Benkei (弁慶), sōhei (tăng binh), đồng minh của Yoshitsune.
Hōjō Tokimasa (時政 北条), người đứng đầu gia tộc Hōjō (北条), bố vợ Yoritomo.
Kajiwara Kagetoki (景時 梶原), chính thức là một đồng minh của Yoshitsune, thực tế làm nội gián cho Yoritomo.
Kumagai Naozane (直実 熊谷), samurai chư hầu của Yoritomo.
Sasaki Moritsuna (盛綱 佐々木), chư hầu của Noriyori người chỉ huy trận đánh Kojima.
Taguchi Shigeyoshi (重能 田口), tướng quân Taira đến hàng tại trại nhà Minamoto khi nh́n thấy xu thế trận đánh đổi chiều trong trận Dan no Ura, do đó, đảm bảo thắng lợi của nhà Minamoto.
Nasu no Yoichi (那須与一), cung thủ nổi tiếng và là bạn của nhà.
Yada Yoshiyasu (矢田 義康), chư hầu của Yoshinaka và chỉ huy quân Minamoto trong trận Mizushima.
Sohei (tăng binh) của Mii-dera và các ngôi chùa khác. Ba người được đề cập đến trong Heike Monogatari v́ vai tṛ của họ trong trận Uji lần thứ nhất:
Ichirai Hoshi (一来 法師), người nổi tiếng v́ nhảy lên trước Jomyo Meishu và dẫn đầu các nhà sư Mii-dera trong trận đánh.
Gochin no Tajima (ごちん忽), được goi là Tajima người cắt tên, và nổi tiếng về việc làm trệch hướng mũi tên nhà Taira bằng naginata của ông, trên cây cầu qua sông Uji.
Tsutsui Jomyo Meishu (筒井 浄妙 めいしゅ), người chiến đấu đến hơi thở cuối cùng trên cầu Uji, nhận đến 60 mũi tên và vẫn chiến đấu.
Những người ủng hộ Minamoto no Yoshinaka (源義仲), anh em họ với Yoritomo, người ủng hộ cuộc nổi dậy của ông:
Imai Kanehira (兼平 今井), đi theo Yoshinaka khi ông chạy đến Seta.

Gia tộc Taira (c̣n gọi là "Heike")

[Only Registered Users Can See Links]

Nhà Taira là một trong bốn đại gia tộc chi phối nền chính trị Nhật Bản trong suốt thời Heian (794-1185). Kết quả của việc gia tộc thù địch, nhà Minamoto, gần như bị tiêu diệt hoàn toàn trong cuộc nổi dậy Heiji năm 1160, Taira no Kiyomori, tộc trưởng, bắt đầu cuộc chiến ở đỉnh cao quyền lực. Tuy vậy, khi kết thúc chiến tranh, chính nhà Taira lại lâm vào họa diệt vong.

Taira no Atsumori (平敦盛), samurai trẻ đă giết Kumagai Naozane, người mà v́ sự trẻ trung và ngây thơ của ḿnh, trở nên khá nổi tiếng sau khi chết.
Taira no Kiyomori (平清盛), tộc trưởng khi bắt đầu chiến tranh.
Taira no Koremori (平維盛), cháu nội của Kiyomori.
Taira no Munemori (平宗盛), con trai và người kế thừa Kiyomori; tộc trưởng trong phần lớn thời gian cuộc chiến.
Taira no Noritsune (平教経), samurai nhà Taira
Taira no Shigehira (平重衡), tướng quân, con trai của Kiyomori.
Taira no Tadanori (平忠度), tướng quân, em trai của Kiyomori.
Taira no Tokiko (平時子), vợ của Kiyomori, tự sát trong trận Dan-no-ura.
Taira no Tomomori (平知盛), tướng quân, con trai của Kiyomori.
Taira no Yukimori (平行盛), tướng quân, chỉ huy quân Taira trong trận Kojima.
Allies and vassals:
Emperor Antoku (安徳), Thiên hoàng, cháu nội của Taira no Kiyomori
Ōba Kagechika (景親 大庭), chư hầu nhà Taira.
Saitō Sanemori (実盛 斎藤), chư hầu cũ của Minamoto no Yoshitomo, chuyển phe và trở thành chư hầu của Taira no Munenori.
Seno Kaneyasu (兼康 妹尾), chư hầu của nhà Taira trấn giữ thành Fukuryūji.
Taguchi Shigeyoshi (重能 田口), tướng quân nhà Taira chuyển sang trại Minamoto khi thấy xu thế trận đánh Dan no Ura thay đổi, do đó đảm bảo chiến thắng của nhà Minamoto.
Sōhei (tăng binh) của chùa Enryaku-ji (延暦寺), ít nhất theo truyền thuyết, v́ sự thù địch của họ với Mii-dera, vốn liên minh với nhà Minamoto.

Chiến tranh Genpei trong văn chương

Nhiều câu chuyện và tác phẩm nghệ thuật miêu tả cuộc chiến này. Truyện kể Heike (Heike Monogatari, 平家物語) là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất, mặc dù nhiều vở kịch kabuki và bunraku cũng tái hienj lại các sự kiện trong chiến tranh. Ichinotani futaba gunki (Kư sự trận đánh Ichi-no-Tani) của Namiki Sōsuke cũng là một tác phẩm nổi tiếng về cuộc chiến này.

"Shike" của Robert Shea làm nổi bật những chi tiết mang tính văn chương của cuộc chiến, được nh́n nhận từ hai nhân vật chính, nhà sư Zinja Jebu, và phu nhân quư tộc Shima Taniko. Cái tên của hai gia tộc thù địch được thay đổi đi, "Minamoto" thành "Muratomo" và "Taira" thành "Takashi".

Một truyện hư cấu về cuộc chiến là phần trung tâm của “nội chiến” (hay c̣n gọi là “thời kỳ hỗn loạn”), tập 9 trong manga nổi tiếng Phượng hoàng lửa của Osamu Tezuka.

Copy toàn bộ từ wiki

Xem thêm về Minamoto no Yoritomo và Yoshitsune

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
09-11-2008, 11:54 AM
Chùa Kurama tọa lạc tại Kyoto, là nơi lúc nhỏ Shanao "tá túc"

1 số h́nh ảnh về chùa (ko phải trong phim)

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
09-25-2008, 05:26 PM
Tăng binh (tiếng Nhật là 僧兵 - Souhei) là những tăng lữ phục vụ quân đội. Bên dưới là Souhei Festival tổ chức tại Yunoyama Onsen, Komono-cho, tỉnh Mie, vào tháng 10 năm 2008

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
09-25-2008, 05:47 PM
Chùa Engaku-ji (Viên giác)

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

Đọc đầy đủ tên chùa th́ như sau: Zuiroku-san Dai-Engaku Kosho Zen-ji. Zen-ji là thiền tự. Vậy chùa Viên Giác cũng giống như chùa Kiến trường là chùa của Thiền tông.

Khoảng bảy trăm năm trước đây, vào thời Bun-ei và Koan, Nhật Bản hai lần bị quân Mông Cổ tấn công. Đây là biến cố lớn lao chưa hề xảy ra trước đây cho nước Nhật. Tướng quân Tokimune Hojo ngay khi bận rộn đối phó với quân xâm lăng vẫn hàng ngày chăm chỉ tu tập thiền dưới sự chỉ dẫn của thiền sư Mugaku Sogen (Bukko Kokushi) từ Trung Hoa tới. Nước Nhật đă trên dưới một ḷng một dạ chiến đấu chống kẻ thù ghê gớm và đẩy lui quân Mông Cổ. Sau khi công cuộc chống xâm lăng đă thành công, Tokimune muốn truyền bá Thiền v́ nhờ nó mà ông đă có chỗ nương tựa vững chắc về tinh thần cũng như muốn siêu độ cho bao nhiêu chiến sĩ Nhật và Mông cổ đă thương vong trong các trận chiến. Ông cũng muốn tỏ ḷng nhớ ơn Thầy là thiền sư Bukko. Chùa Viên Giác được xây cất để đáp ứng những mong muốn đó. Trong khi đào xới đất, công nhân t́m thấy một hộp đá bên trong có quyển kinh Viên Giác, do đó Viên Giác được dùng để đặt tên chùa.

Sự thành lập phái Bukko được tiếp nối từ Koho Ken-nichi ở chùa Nasu Ungen đến Muso Soseki ở chùa Tenryu. Muso được đặc biệt kính trọng v́ là Thầy của Bẩy Thiên hoàng trong thời đại Nam Bắc triều (1336-1392). Thiền phái này có ảnh hưởng lớn lao đến thiền giới Nhật bản trong thời Muromachi (1338-1573).

Chùa bị cháy nhiều lần và cũng bị suy tàn trong một thời gian. Thiền sư Seisetsu thuộc cuối thời Edo (1603-1867) đă tái thiết và làm cho chùa có cơ sở vững chắc như ngày nay. Ngài đă sửa đổi lại môn phái và duy tŕ lề lối khắc khổ đối với các thiền sinh.

Thông tin thêm [Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links] 3%A1t

akachan
10-02-2008, 03:11 PM
Tài liệu tham khảo

Gia tộc Minamoto ([Only Registered Users Can See Links])

Yoshitsune ([Only Registered Users Can See Links])

Chiến tranh Genpei ([Only Registered Users Can See Links])

Sự kiện ep 05

Nhà Minamoto là một trong bốn gia tộc lớn chi phối nền chính trị Nhật Bản suốt thời Heian (794-1185). Tuy vậy, họ bị nhà Taira tàn sát trong cuộc Nổi loạn Heiji năm 1160. Minamoto no Yoshitomo là người đứng đầu gia tộc vào thời điểm đó; sau thất bại về tay Taira no Kiyomori, hai con trai của ông bị giết, và người con thú ba, Minamoto no Yoritomo bị lưu đày. Sau lời hiệu triệu của Hoàng tử Mochihito và Minamoto no Yorimasa năm 1180, gia tộc này tập hợp lại và củng cố quyền lực. Chiến tranh Genpei chứng kiến việc gia tộc Minamoto đánh bại gia tộc Taira và giành quyền thống trị toàn bộ đất nước.

Chiến tranh Genpei là đỉnh cao của cuộc xung đột kéo dài hàng thập kỷ giữa hai gia tộc Taira và Minamoto nhằm giành quyền thống trị triều đ́nh, và rộng hơn, là thống trị nước Nhật. Trong cuộc Nổi loạn Hōgen[1] và Nổi loạn Heiji[2] các thập kỷ trước đó, nhà Minamoto cố giành lại quyền lực từ tay nhà Taira nhưng thất bại. Nhà Taira bắt đầu tiến hành hàng loạt cuộc hành quyết, cố tiêu diệt kẻ thù của ḿnh.

Trong tên nổi loạn "Heiji," danh từ "Heiji" để chỉ nengō (niên hiệu) sau "Hōgen" và trước "Eiryaku." Nói cách khác, loạn Heiji diễn ra dưới thời Heiji, từ năm 1159 đến năm 1160.

Loạn Hougen: loạn trong hoàng thất vào năm 1156 (Hougen nguyên niên). Một bên là thượng hoàng Sutoku và nhiếp quan Fujiwara Yorinaga và một bên khác là thiên hoàng Hậu Shirakawa và nhiếp quan Fujiwara Tadamichi. Phía Hậu Shirakawa đă dùng quân của các vũ sĩ Taira Kiyomori, Minamoto Yoshitomo và đă đánh thắng phía thượng hoàng Sutoku. Loạn nầy đă tạo ra cơ hội để vũ sĩ tham gia vào chính trị.

Loạn Heiji: loạn xảy ra vào năm 1159 (Heiji nguyên niên). Fujiwara Michinori tranh dành quyền lực với Fujiwara Nobuyori, Taira Kiyomori tranh thế lực với Minamoto Yoshitomo. Minamoto thua Taira và Nobuyori bị hành h́nh. Yoshitomo trốn và bị giết ở Owari (vùng Nagoya ngày nay).

(thx ai đă t́m tài liệu)

akachan
10-02-2008, 03:47 PM
Chú thích ep 05

Daijō daijin (太政大臣, Daijō daijin) hay Thái Chính Đại Thần là người đứng đầu Daijō-kan, hay “Thái Chính Quan” ở thời kỳ Heian ở Nhật Bản và một thời gian ngắn dưới thời Hiến pháp Minh Trị. Vị trí này, cùng với phần c̣n lại trong cơ cấu Daijō-kan, ban đầu được lập ra bởi Bộ luật Taihō năm 702.

“Thái Chính Đại Thần” chủ tŕ Thái Chính Quan, và kiểm soát mọi quan lại trong triều, đặc biệt là Tả Đại Thần (左大臣, Sadaijin) và Hữu Đại Thần (右大臣, Udaijin) , cũng như bốn vị đại nhân chủ chốt trong hội đồng và ba vị nhỏ hơn. Các bộ phụ trách các công việc khác của triều đ́nh.

V́ gia tộc Fujiwara luôn kiểm soát vị trí Nhiếp chính, thu nhận ảnh hưởng nên quyền lực của các cơ quan trong triều ngày một giảm sút. Cho đến thế kỷ 10, Thái Chính Đại Thần không c̣n quyền phát ngôn trừ khi họ đồng thời là Nhiếp chính, nếu không th́ phải được nhà Fujiwara ủng hộ. Mặc dù vị trí này vẫn tồn tại trên danh nghĩa cho đến năm 1885, cho đến đầu thế kỷ 12, vị trí này thực chất không có quyền lực, và thường bị bỏ khuyết, v́ các Nhiếp chính quan, đôi khi giữ chức Tả hay Hữu Đại Thần, giữ mọi quyền lực hành chính trong triều.

Cơ quan này được phục hồi dưới Hiến pháp Minh Trị với việc bổ nhiệm Sanjo Sanetomi năm 1871, trước khi hoàn toàn bị xóa bỏ năm 1885.

Tham khảo thêm [Only Registered Users Can See Links]

akachan
10-02-2008, 04:23 PM
Bảng tóm tắt tiểu sử của Yoritomo sau đây có đề cập khái quát những sự kiện xảy ra trong ep 05

[Only Registered Users Can See Links]

Taira no Kiyomori (平 清盛, B́nh Thanh Thịnh?, 1118–1181) là một vị tướng vào cuối thời Heian của Nhật Bản. Ông thiết lập nên chính quyền hành chính do samurai thống trị đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản.

Sau cái chết của cha ông là Taira no Tadamori năm 1153, Kiyomori nắm lấy quyền kiểm soát gia tộc Taira và tiến vào lĩnh vực chính trị một cách đầy tham vọng, khi mà trước đó ông mới giữ một vị trí thứ yếu. Năm 1156, ông và Minamoto no Yoshitomo, tộc trưởng gia tộc Minamoto, dẹp loạn Hōgen. Điều này khiến các gia tộc samurai Taira và Minamoto trở thành các gia tộc chiến binh hàng đầu ở Kyoto. Tuy vậy, sức mạnh mới của họ thực tế khiến các đồng minh trở thành những kẻ tử thù mà đỉnh cao là loạn Heiji 3 năm sau đó năm 1159. Kiyomori, chiến thắng và giết được Yoshitomo và hai con trai lớn của ông, nay là người tộc trưởng của gia tộc chiến binh hùng mạnh duy nhất ở Kyoto. Tuy vậy, cần phải chư ư rằng quyền lực và ảnh hưởng của gia tộc ông khi ấy ở các tỉnh là một điều không chắc chắn, Kiyomori thể hiện ḷng khoan dung và lưu đày vài người con của Yoshitomo, bao gồm Yoritomo, Noriyori, và Yoshitsune – một ḷng nhân từ sẽ khiến gia tộc Taira sụp đổ sau này.

Với vị trí tộc trưởng của gia tộc chiến binh/quan lại duy nhất, Kiyomori giữ vị trí độc tôn thao túng mối hận thù trong triều giữa Thượng hoàng Go-Shirakawa và con trai ḿnh, Thiên hoàng Nijo. Qua sự thao túng này, Kiyomori có thể leo lên các vị trí chủ chốt tỏng triều, mặc dù phần lớn việc phong chức hay thành công của gia đ́nh trong việc có được các tước hiệu và chức vụ là nhờ sự giúp đỡ của Thượng hoàng Go-Shirakawa. Điều này lên đến đỉnh cao vào năm 1167, khi Kiyomori trở thành vị quan đầu tiên từ một gia tộc chiến binh được bổ nhiệm làm Daijō Daijin, Thái Chính Đại Thần, và thực tế là người quản lư mọi chuyện triều chính. Theo quy tắc, ông sớm từ bỏ vị trí lănh đạo nhà Taira, với mục đích duy tŕ uy tín chính trị và xă hội của việc giành được chức quan cao nhất nước, nhưng vẫn không cần phải góp mặt. Điều này trở thành một thông lệ trong rất nhiều năm trên những tầng nấc cao nhất của chính quyền Nhật Bản và làm như vậy, Kiyomori xác nhận vị trí mà ông cho là quyền lực nhất trong triều đ́nh Kyoto. Nên chú ư rằng nhiều vị quan từ các gia đ́nh truyền thống (các gia đ́nh quư tộc không phải chiến binh) không hài ḷng với việc Kiyomori được dành được chức Daijo-daijin và cách ông xử sự với các đại quan khác trong triều.

Năm 1171, Kiyomori sắp xếp một cuộc hôn nhân giữa Thiên hoàng Takakura và con gái ḿnh Taira no Tokuko. Con trai đầu tiên của họ, Hoàng từ Tokihito được sinh ra năm 1178. Năm sau đó, năm 1179, Kiyomori tiến hành đảo chính quân sự buộc các kẻ thù của ḿnh phải rời khỏi mọi vị trí trong triều và sau đó lưu đày họ. Ông sau đó lấp vào các vị trí trống bằng các đồng minh và họ hàng của ḿnh, tống giam Pháp hoàng Go-Shirakawa. Cuối cùng, năm 1180 Kiyomori ép Thiên hoàng Takakura từ ngôi và trao ngôi báu cho Hoàng từ Tokuhito, trở thành Thiên hoàng Antoku.

[Only Registered Users Can See Links]

Với sự sử dụng quyền lực và sự giàu có và thế độc quyền chính trị mới của Kiyomoti, rất nhiều đồng minh của ông, phần lớn là samurai tại các tỉnh,và thậm chí thành viên của chính gia tộc ḿnh quay lưng lại với ông. Hoàng tử Mochihito, người anh em của Thiên hoàng Takakura, kêu gọi kẻ thù cũ của Kiyomori là gia tộc Minamoto nổi dậy chống lại nhà Taira, mở đầu Chiến tranh Genpei vào giữa thập kỷ 1180. Kiyomori chết đầu năm sau v́ ốm, để lại người con Munemori chịu trách nhiệm về sự sụp đổ và tiêu vong của nhà Taira về tay nhà Minamoto năm 1185. Huyền thoại kể rằng, lúc sắp lâm chung, nhiệt độ thân thể của Kiyomori cao đến mức bất kỳ ai cố đến gần ông đều bị đốt cháy v́ nhiệt và xác chết của ông phải để làm mát vài giờ rồi mới chuyển đi được.

Taira no Kiyomori cũng là nhân vật chính trong thiên anh hùng ca thời kỳ Kamakura, Truyện kể Heike.

Trong video game, Kiyomori xuất hiện trong Warriors Orochi: Rebirth of the Demon Lord chiến đấu chống lại quân đội của Orochi, sử dụng chuỗi tràng hạt làm vũ khí.

Kiyomori cũng được miêu tả nổi bật như là một kẻ ác đáng mến trong seri truyện Phượng hoàng lửa (manga) của Osamu Tezuka trong nửa đầu tập 9, Thời hỗn loạn, một sử thi khác về chiến tranh Genpei. Giống như phần lớn những kẻ ác khác trong truyện, ông khao khát có được con chim huyền thoại và ḍng máu ban cho sự bất từ của nó, v́ khát vọng tiếp tục dẫn dắt và bảo vệ gia tộc Taira và thiếu niềm tin vào người kế nghiệp, nhưng cuối cùng bị lừa mua phải một con chim công.

Credit to [Only Registered Users Can See Links]

akachan
10-12-2008, 04:42 PM
Những thông tin liên quan đến Ep 06

Mạc phủ và Nhiếp chính Hōjō ([Only Registered Users Can See Links])

Danh sách Hōjō Shikken

1 Hōjō Tokimasa (1138-1215) (r. 1203-1205)
2 Hōjō Yoshitoki (1163-1224) (r. 1205-1224)
3 Hōjō Yasutoki (1183-1242) (r. 1224-1242)
4 Hōjō Tsunetoki (1224-1246) (r. 1242-1246)
5 Hōjō Tokiyori (1227-1263) (r. 1246-1256)
6 Hōjō Nagatoki (1229-1264) (r. 1256-1264)
7 Hōjō Masamura (1205-1273) (r. 1264-1268)
8 Hōjō Tokimune (1251-1284) (r. 1268-1284)
9 Hōjō Sadatoki (1271-1311) (r. 1284-1301)
10 Hōjō Morotoki (1275-1311) (r. 1301-1311)
11 Hōjō Munenobu (1259-1312) (r. 1311-1312)
12 Hōjō Hirotoki (1279-1315) (r. 1312-1315)
13 Hōjō Mototoki (?-1333) (r. 1315)
14 Hōjō Takatoki (1303-1333) (r. 1316-1326)
15 Hōjō Sadaaki (1278-1333) (r. 1326)
16 Hōjō Moritoki (?-1333) (r. 1327-1333)

Những người đóng vai tṛ quan trọng trong tộc Houjou (1 nhánh của tộc Heike)

* Hōjō Sanetoki
* Hōjō Masako

Tỉnh Oumi ([Only Registered Users Can See Links])

admin
11-08-2008, 05:33 PM
Nhân vật của ep 07

# ḍng họ Adachi, một ḍng họ samurai

* Morinaga Adachi (1135 - 1200), chiến binh Nhật Bản thuộc ḍng họ Adachi
* Kagemori Adachi (? - 1248), chiến binh Nhật Bản thuộc ḍng họ Adachi

Thông tin thêm

[Only Registered Users Can See Links]

Ḍng họ Fujiwara

[Only Registered Users Can See Links]

admin
11-29-2008, 10:01 PM
trong ep 8 có đề cập đến chùa Rengeoin, đây là một ngôi chùa ở quận Higashiyama, gần Keage, Kyōto

[Only Registered Users Can See Links]

nh́n từ phía nam

[Only Registered Users Can See Links]

admin
12-24-2008, 09:21 AM
Trong ep 10 có đề cập đến ngôi chùa Chuson-ji do Kiyohira xây dựng

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

admin
12-24-2008, 01:23 PM
Chùa Motsu-ji do Motohira khởi công. Ông là con của Kiyohira. Chùa này ở Hiraizumi.

[Only Registered Users Can See Links]

Vườn

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

Mùa xuân ở Motsuji

[Only Registered Users Can See Links]

admin
12-24-2008, 01:32 PM
Chùa Byodo-in ở Uji

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

Nếu không làm th́ đây là phật Amida

[Only Registered Users Can See Links]

admin
12-24-2008, 01:37 PM
Uji thuộc Kyoto

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

admin
12-24-2008, 01:47 PM
Chùa Muryoko-in - Vô Lượng Quang

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

admin
12-24-2008, 07:51 PM
Chùa Eizanji, nơi Benkei bị trục xuất

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

admin
12-24-2008, 07:53 PM
[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

admin
01-30-2009, 09:20 PM
Tập 11

Phủ Takadachi gần sông Kitakami, nơi Yoshitsune sống

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

admin
02-10-2009, 04:56 PM
Tài liệu tham khảo

Trận Kurikara ([Only Registered Users Can See Links])

TrậnKurikara, c̣n được gọi là Trận Tonamiyama (砺波山) (Lệ Ba Sơn), là trận đánh quyết định trong Chiến tranh Genpei ở Nhật; trong trận đánh này, xu thế của cuộc chiến đă chuyển về phía có lợi cho gia tộc Minamoto.

Trận Awazu ([Only Registered Users Can See Links])

Truyện Heike (Heike Monogatari), Thái B́nh Kư (Taiheiki)

Sesshō ([Only Registered Users Can See Links]) và Kampaku ([Only Registered Users Can See Links])

Trận Uji (1180) ([Only Registered Users Can See Links](1180))

Ep 12

Kiso Yoshinaka ([Only Registered Users Can See Links])
và văn chương chiến kư Nhật Bản

admin
02-10-2009, 06:28 PM
Bizen

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

Rokuhara

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

admin
02-10-2009, 07:06 PM
Mandala

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
04-01-2009, 01:24 PM
Hoàng tử Mochihito (以仁王 Mochihito-o) sinh vào tháng 7 năm 1180, là con trai của Go-Shirakawa. Hoàng tử Mochihito trở thành Nhật hoàng thứ 80 của Nhật, sau đó là con trai ông, Nhật hoàng thứ 81 Antoku. Khi lên ngôi ông lấy tên là Takakura, là chồng của Kenreimonin Tokuko (con gái của Taira Kiyomori). Ông c̣n được biết đến với tên Minamoto Mochimitsu, là người khởi chiến Genpei. Mặc dù là con rễ của nhà Heike nhưng ông lại ủng hộ tộc Minamoto. Các bạn có thể xem thêm thông tin tiếng anh của Mochihito-o hoặc các trang thông tin tiếng Việt về các cuộc chiến Genpei, Uji... đă post ở trên

akachan
04-07-2009, 08:09 PM
(Ep 13)

Kumano

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
04-07-2009, 08:12 PM
[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
04-07-2009, 08:14 PM
[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
06-03-2009, 11:07 PM
Ep 14 có đề cập đến Uji - 1 nơi cực kỳ đẹp và nổi tiếng

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

Phượng hoàng đường trong Byodoin

[Only Registered Users Can See Links]

Trận Uji (1180)
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, t́m kiếm
Trận Uji lần thứ nhất

Trận Uji lần thứ nhất nổi tiếng và quan trọng v́ mở đầu cho Chiến tranh Genpei. Đầu năm 1180, Hoàng tử Mochihito, người được gia tộc Minamoto ủng hộ lên ngôi, bị quân đội Taira đuổi đến Mii-dera, ngôi chùa ở ngoại ô Kyoto. Do có sự can thiệp của các nhà sư Mii-dera có cảm t́nh với nhà Taira, quân đội Minamoto đến quá muộn để giúp pḥng ngự ngôi chùa. Minamoto no Yorimasa dẫn Hoàng tử Mochihito, cùng với quân đội Minamoto và một số tăng binh từ Mii-dera, xuống phía Nam đến Nara. Họ vượt qua sông Uji, ở ngay ngoài Byodoin (B́nh Đằng Viện), và phá cây cầu ở sau ḿnh để cản quân Taira không đuổi theo ḿnh. 3 tăng binh đặc biệt được kể tên trong Heike Monogatari: Gochin no Tajima, Tsutsui Jomyo Meishu, và Ichirai Hoshi. 3 người này, cùng với các tăng binh khác của Mii-dera, chiến đấu với cung tên, rất nhiều kiếm và dao găm, và naginata.

Tuy nhiên, quân đội nhà Taira bắt đầu lội quan khúc cạn ḍng sông, và bắt kịp quân Minamoto. Yorimasa cố giúp Hoàng tử chạy trốn, nhưng bị trúng tên. Ông mổ bụng tự sát (seppuku), mở đầu tiền lệ lễ nghi thà tự sát c̣n hơn đầu hàng, sẽ được ca ngợi trong Chiến tranh thế giới II. Đây là sự kiện đầu tiên được biết đến về loại seppuku này. Hoàng tử bị bắt và bị nhà Taira sát hại ít lâu sau đó.

Trận Uji (1184)

Minamoto no Yoshinaka cố dành quyền lực từ tay những người anh em họ của ḿnh là Yoritomo vàYoshitsune, nắm quyền chỉ huy toàn gia tộc. Cuối cùng, ông từ bỏ Kyoto, đốt cháy điện Hōjūji, bắt cóc Thiên hoàng Go-Shirakawa và tự xưng làm shogun. Tuy nhiên, những người anh em họ sớm bắt kịp ông sau đó, và vào Tết năm mới năm 1184, họ truy kích qua cây cầu sông Uji. Mỉa mai là, trận đánh này giống y hệt Trận Uji lần thứ nhất, chỉ 4 năm trước đó.
Kajiwara Kagesue, Sasaki Takatsuna, và Hatakeyama Shigetada đua nhau vượt sông Uji trước trận Uji lần thứ hai, Tết năm mới năm 1184, tranh in của Utagawa Kuniyoshi.

Giống như những ǵ mà nhà Taira đă làm ở trận đầu tiên, Minamoto no Yoshitsune dẫn kỵ binh của ḿnh vượt sông và đánh bại Yoshinaka, và đuổi Yoshinaka ra khỏi kinh đô.

Credit to wiki

akachan
06-03-2009, 11:21 PM
Chùa Kofuku

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

Credit to [Only Registered Users Can See Links]

Chùa Kofuku là kiến trúc đặc sắc thứ ba của kinh đô Nara. Đây là một trong Thất Đại tự của Nara. Ngôi chùa ngày được chuyển về Nara từ thủ đô trước là Asuka vào năm 710, khi thủ đô được chuyển đến Nara. Ngôi chùa cao 50.8 m gồm 5 tầng.

Một ví dụ tiêu biểu cho việc kết hợp hài ḥa và yên b́nh giữa các tôn giáo tại Nhật Bản. Năm 937, một nhà sư của Kofuku-ji đă nh́n thấy trong giấc mơ của ḿnh vị thần Shinto của đền Kasuga, xuất hiện dưới vẻ ng̣ai của một vị Phật.

akachan
06-05-2009, 08:51 AM
Trận Ishibashiyama

Trận Ishibashiyama (石橋山の戦い, Ishibashiyama no tatakai?, Trận Thạch Kiều Sơn) là trận đánh đầu tiên Minamoto no Yoritomo, người sẽ trở thành shogun một thập kỷ sau đó, chỉ huy quân đội Minamoto. Trong trận đánh này, nỗ lực đầu tiên của ông nhằm thách thức nhà Taira, ông được trợ giúp từ các chiến binh từ gia tộc Miura.

Yoritomo đă bị Taira no Kiyomori lưu đày sau loạn Heiji. Khi Kiyomori nghe tin Yoritomo đă rời Izu và đang tiến đền đèo Hakone, ông cử Oba Kagechika đến để chặn Yoritomo lại. Và ông đă thành công, với một trận tấn công bất ngờ vào ban đềm.

Trận đánh diễn ra ở ngoài tổng hành dinh của Yoritomo, tại thành phố Kamakura, và là một trong những trận đánh đẫm máu trong Chiến tranh Genpei.

Credit to [Only Registered Users Can See Links]

Tham khảo thêm

Minamoto Yoritomo

Minamoto Yoritomo - Người sáng chế ra cấu trúc quyền lực hai tầng ([Only Registered Users Can See Links])

akachan
06-05-2009, 09:03 AM
Kajiwara Kagetoki

Ngoài những thông tin được đề cập ở các bài post trên, c̣n có thông tin tiếng Anh ([Only Registered Users Can See Links])

C̣n đây là h́nh ảnh của ông torng game, kabuki...

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
06-05-2009, 09:21 AM
Truyện Heike (Heike monogatari), Thái B́nh Kư (Taiheiki) và ḍng văn học chiến kư. Định mệnh của con nhà vơ ([Only Registered Users Can See Links])

Truyện Heike th́ quá nổi tiếng, chúng ta ít nhiều đă nghe qua. Nhưng đương nhiên v́ truyện dài quá nên trên mạng thường ta chỉ t́m thấy thông tin, tóm lược hoặc các bài phân tích. Hôm nay t́nh cờ ka lên mạng t́m tư liệu về 1 nhân vật lịch sử trong phim Yoshitsune, đă đọc được bài viết trên. Nó cô động, dễ đọc và khá hay. Mọi người đọc thử nhé. Ngoài ra c̣n có thể dễ dàng t́m kiếm các thông tin liên quan trên google!

akachan
06-05-2009, 09:41 AM
không biết bạn ka kể chiện trong yoshitsune, nhà taira có 1 đống trai đẹp chưa nhỉ )) đương nhiên là diễn viên thôi, nhưng mà đẹp phải biết nhé, đặc biệt là 2 cháu nội của Kiyomori TT Nói chung là thông tin về những người này rải rác ở các bài trên. thông tin tiếng việt hầu như không có (v́ nhiều nhân vật quá).

xin giới thiệu Taira no Koremori ([Only Registered Users Can See Links]) (tiếng Anh). Mầy người trong tộc này lấy toàn con gái của mấy gia đ́nh quyền thế hoặc trong hoàng tộc thôi nhé ><

Và đây, nhân vật siêu đẹp trai >< Taira no Sukemori

[Only Registered Users Can See Links]

À, ông ta có thể không đẹp ~~ nhưng người đóng vai Sukemori là Koizumi Koutaro th́ đẹp

[Only Registered Users Can See Links]

# Kashu Toshiki vai Taira Koremori

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
09-17-2009, 01:37 PM
Ep 15

Ep 15 nói đến trận Thạch Kiều Sơn (đă post ở trên), ngoài ra c̣n nhắc đến Manazuru (nơi này thuộc tỉnh Kanagawa)

[Only Registered Users Can See Links]

Xem chi tiết tiếng Anh: [Only Registered Users Can See Links] u%2C_Kanagawa&ei=PNixSrSfFdKfkQWMtPDTCw&rct=j&q=manazuru&usg=AFQjCNHZppZXHP1UzYv7cpYQYRvz046GCQ

akachan
09-17-2009, 01:45 PM
Bán đảo Boso thuộc tỉnh Chiba

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
09-17-2009, 01:48 PM
Tsurugaoka Hachiman-gū là ngôi chùa Shinto nổi tiếng bất nhất ở Kamakura, tỉnh Kanagawa
[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
09-17-2009, 01:58 PM
Samurai-dokoro (侍所 Board of Retainers) là chính quyền của Kamakura và các tướng quân Muromachi

[Only Registered Users Can See Links]

Samurai Dokoro là cơ quan có chức năng theo dơi và kiểm soát các hoạt động quân sự. Sau này, Samurai Dokoro c̣n kiêm thêm chức năng giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ, tài sản, cấp bậc, ưu tiên của các quan chức cùng các công việc quân sự nói chung. Không chỉ vậy, trong thời b́nh cơ quan này c̣n đảm đương nhiệm vụ điều hành và chỉ đạo các hoạt động thương mại.

Xem thêm ([Only Registered Users Can See Links])

akachan
08-14-2010, 10:44 PM
Sông Fuji (Fujigawa)

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

Cây cầu bắt ngang sông Fuji, xa xa là núi Phú Sĩ (Fujisan)

[Only Registered Users Can See Links]

Trận Fujigawa (Nhật: 富士川の戦い, Fujigawa no tatakai, Trận Phú Sĩ Xuyên) là một trận đánh trong Chiến tranh Genpei, vào thời kỳ Heian trong lịch sử Nhật Bản. Nó diễn ra vào năm 1180, tại nơi ngày nay là tỉnh Shizuoka.

Cố sớm phục hồi sức mạnh những tháng năm bị lưu đày, và xây dựng lại quân đội, Minamoto no Yoritomo cử người đưa thư đến cho các gia đ́nh khác. Khi ông tiếp tục tiến qua vùng dưới chân núi Fuji, vào tỉnh Suruga, ông dự định hội quân với gia tộc Takeda và các gia tộc khác trong các tỉnh Kai và Kozuke về phía Bắc. Trong đêm, người ta cho rằng nhà Taira đă nhầm tưởng tiếng lũ chim nước là quân phục kích của gia tộc Minamoto, và bỏ chạy, mà chưa có trận đán thực sự nào diễn.

Credit to [Only Registered Users Can See Links]

akachan
09-02-2010, 11:17 AM
[Only Registered Users Can See Links]

Hachiman (Nhật: 八幡神, Hachiman-shin / Yawata no kami?, Bát Phiên thần) là thần chiến tranh của đạo Shinto, và người bảo vệ thiêng liêng của nước Nhật và người Nhật. Tên của vị thần này có nghĩa là Thần của tám cờ hiệu, nói dến 8 cờ hiệu trên trời báo hiệu sự ra đời của Thiên hoàng Ojin thần thánh. Con vật biểu tượng và người truyền thông điệp của ông là chim bồ câu.

Từ thời cổ đại, Hachiman đă được nông dân thờ làm thần nông nghiệp và ngư dân hy vọng ông sẽ mang đầy cá vào lưới của họ. Trong tôn giáo Shinto, ông được đồng nhất bằng huyền thoại với Thiên hoàng Ojin, con trai của Hoàng hậu Jingu, từ thế kỷ 3-4 SCN. Tuy vậy, sau khi Phật giáo du nhập vào Nhật Bản, Hachiman trở thành một vị thần chung, ḥa trộn giữa tín ngưỡng Shinto bản đại với Phật giáo. Trong các vị Phật thế kỷ 8, ông có liên hệ với vị Bồ Tát Daibosatsu.[1]

Hachiman cũng nổi tiếng với việc là người bảo vệ cho gia tộc samurai Minamoto. Minamoto no Yoshiie, khi đến tuổi trường thành tại đền Iwashimizu tại Kyoto, lấy cái tên Hachiman Taro Yoshiie và qua ḷng dũng cảm trong chiến đấu và đức hạn trong chỉ huy, được kính trọng coi là samurai lư tưởng qua nhiều thời đại. Sau khi hậu duệ của ông là Minamoto no Yoritomo trở thành shogun và lập ra Mạc phủ Kamakura ở Kamakura, Nhật Bản, ông chuyển Tsurugaoka Hachiman-gū ở Kamakura từ Zaimokuza đến vị trí của nó ngày nay, và bắt đầu tôn kính Hachiman làm người bảo vệ cho gia tộc.

Trong suốt thời kỳ phong kiến ở Nhật, việc thờ phụng Hachiman lan ra khắp nước Nhật, không chỉ trong tầng lớp samurai, mà c̣n cả nông dân. Sự phổ biến của ông được thể hiện với việc xây dựng 3.000 ngôi đền ở Nhật để thờ phụng Hachiman, con số lớn thứ hai, chỉ sau đền thờ thần Inari. Đền Usa ở Usa, tỉnh Oita là ngôi đền chính của những ngôi đền n ày và cùng với Tsurugaoka Hachiman-gū và đền Iwashimizu, nổi tiếng là những đền quan trọng nhất thờ Hachiman.

Biểu tượng của Hachiman thiết kế theo kiểu một tomoe, một xoáy nước tṛn hay gió xoáy với ba đầu xoay sang trái hoặc phải. Nhiều gia tộc samurai sử dụng gia huy tomoe, và mỉa mai là, một số truy nguồn gốc tổ tiên lại là kẻ thù ghê gớm của nhà Minamoto, nhà Taira từ chi của Thiên hoàng Kanmu (Kammu Heishi).

C̣n đây là 2 bài viết có liên quan đến đền Hachiman ḿnh t́m thấy trên mạng

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
09-04-2010, 06:43 PM
Samurai

Samurai (tiếng Nhật: 侍; rōmaji: Samurai; phiên âm Hán-Việt: thị ) có hai nghĩa. Theo nghĩa thứ nhất, samurai là một bộ phận của tầng lớp vơ sĩ Nhật Bản, là thuộc hạ của các shogun, daimyo, và đứng trên một số bộ phận vơ sĩ khác. Samurai theo nghĩa này là cách hiểu ở Nhật Bản. Theo nghĩa thứ hai và được sử dụng phổ biến trên thế giới ngoài Nhật Bản, samurai chính là tầng lớp vơ sĩ (tiếng Nhật: 武士; rōmaji: bushi; phiên âm Hán-Việt: vơ sĩ ) của Nhật Bản, tức là bao gồm cả cả shogun và daimyo.

Xem tiếp: [Only Registered Users Can See Links]

Một bài phân tích khác: [Only Registered Users Can See Links]

ajisai
09-25-2010, 09:40 PM
Các loài hoa xuất hiện trong ep 20:

Hoa đỗ quyên
[Only Registered Users Can See Links]

Họ : Ericaceae hay Heath (Thạch nam)
Đỗ quyên c̣n có tên là sơn thạch lựu, ánh sơn hồng, măn sơn hồng, báo xuân hoa, thanh minh hoa, sơn trà hoa
Đỗ quyên (Rhododendron, Azalea) là một trong những loài hoa cảnh rất được ưa chuộng ở nhiều nước trên thế giới bởi vẻ đẹp dịu dàng của nó. Cây có nguồn gốc ôn đới, mọc nhiều ở những vùng núi cao, thích hợp với khí hậu mát mẻ quanh năm. Đỗ quyên rất sợ nắng và nơi không thoát nước (v́ thế Rhodonendron c̣n được gọi là họ cây khô). Rhododendron rất đa dạng phong phú về chủng loại, kích cỡ và màu sắc. Trên thế giới, đỗ quyên phân bố nhiều ở vùng ôn đới Bắc Mĩ, vùng cao nguyên tiếp giáp Á - Âu và Đông Á, khá phổ biến ở Nhật và Bắc Triều Tiên. Hoa đỗ quyên cũng hay được nhắc đến trong các tác phẩm nghệ thuật như thi ca và hội họa Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc...Ở Việt Nam, đỗ quyên có ở những vùng núi cao như Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo, làng Tŕnh Xuyên bên bờ sông Trà Lư phụ cận thành phố Nam Định...
Đỗ quyên có nhiều giống với nhiều màu hoa :
- Tử quyên đỏ tía
[Only Registered Users Can See Links]

- Hồng quyên đỏ nhạt
[Only Registered Users Can See Links]

- Bạch quyên trắng
[Only Registered Users Can See Links]

- Hoàng quyên vàng
[Only Registered Users Can See Links]

Rhododendron được chọn là quốc hoa (national flower) xứ Nepal và biểu tượng hoa (state flower) của hai tiểu bang Washington, West Virginia ở Mĩ. Năm 1979, Azalea (một loài Rhododendron) cũng được bang Georgia chọn làm "state wildflower" - biểu tượng hoa dại (state flower của Georgia là Cherokee Rose).
Quốc hoa xứ Nepal
Ai đó từng nói, vẻ đẹp trọn vẹn của Nepal chỉ có thể nghiệm ra được sau khi bạn nh́n thấy những chùm đỗ quyên nở tươi tắn dưới những cây linh sam nơi xứ sở huyền thoại của những vị thần núi này.
[Only Registered Users Can See Links]

Nepal có 30 loài Rhododendron với nhiều kiểu dáng, màu sắc và kích thước khác nhau. Và Rhododendron arboreum, tên địa phương là Lali Guras (tiếng Anh : "Rose Tree"), loài cây cao nhất (có thể đến 15m), hoa nở sớm và lâu nhất trong gia đ́nh Rhododendron tại đây, hân hạnh được Nepal chọn làm quốc hoa. Lali Guras có nguồn gốc từ Bắc Trung bộ Ấn Độ, phân bố dọc xứ sở Nepal và ở nhiều độ cao khác nhau. Càng lên cao, hoa càng nở rực rỡ sắc màu, từ đỏ thẫm đến trắng ngà, tím, hồng, cam, vàng, kem, đốm...Ai đă ngắm cảnh núi đồi ngập tràn hoa đều thấy đây quả là những ấn tượng khó phai. Mùa đỗ quyên xứ Nepal nở đẹp nhất là mùa Xuân và chớm Hè. Lila Guras nở từ đầu tháng Hai đến giữa tháng Năm. Tháng 3, tháng 4 là thời gian đẹp nhất ở trung du, trong khi đó, tháng 5 và tháng 6 là đẹp nhất trên cao nguyên.

Người dân bản xứ cho rằng uống một ngụm nước cốt hoa Lali Guras có thể ḥa tan được xương cá mắc trong cổ họng. Nhiều người c̣n giữ hoa trong nhà sẵn pḥng khi khẩn cấp. Hoa cũng được chưng nơi thờ các vị thần và được những phụ nữ miền núi cài trên tóc làm duyên.

Người ta ăn cả hoa, có vị ngọt chua. Trẻ con thôn làng thích hút mật trong nhụy hoa. Gỗ cây dễ chặt, người dân dùng làm củi hay dụng cụ nhà bếp. Bột nhăo giă từ lá non, dân làng đắp lên trán trị chứng đau đầu. Người ta c̣n sử dụng hương của hoa để thơm.

Đỗ quyên - biểu tượng hoa của West Virginia và Washington

[Only Registered Users Can See Links]
Năm 1893, Hội chợ quốc tế (World''''s Fair) tại Chicago đă thúc đẩy phong trào chọn biểu tượng hoa cho các tiểu bang tại Mĩ. Mỗi bang được mời phải chọn một loài hoa đặc trưng làm đại diện cho ḿnh tại Hội chợ.

Hai tiểu bang nhiều núi đồi nhất nước Mĩ, West Virginia và Washington đă chọn đỗ quyên làm biểu tượng hoa của ḿnh.

West Virginia - Rhododendron maximum (Rose bay)

Thực ra, lúc đó người dân xứ này vẫn c̣n băn khoăn chưa chọn được loài hoa ưng ư nhất cho tiểu bang ḿnh. Măi tới năm 1901, nhà cầm quyền George Atkinson tuyên bố, đă đến lúc phải chọn cho Virginia mẫu cờ và biểu tượng hoa của tiểu bang. Ông đề cử hoa đỗ quyên. “For a State Flower, I know none more beautiful and none more common in West Virginia, than the Rhododendron. It is found along most every vale and hillside, and is universally admired both for its beauty and fragrance.”

Rồi người ta bắt đầu đưa ra những bông hoa yêu thích khác của ḿnh, cả trẻ em cũng được tham gia. Và như vậy, ngày 26/11/1902, Rhododendron hay "Big Laurel" ("Đại Nguyệt Quế) đă chiến thắng áp đảo với 19,000 trên tổng số 36,000 phiếu, nhiều hơn tất cả những loài hoa khác hợp lại. Đến 23/1/1903, Thượng viện thông qua và loài Rhododendron maximum chính thức trở thành State flower.


credit to yume blog

ajisai
09-25-2010, 10:05 PM
Hoa tràng sao

[Only Registered Users Can See Links]


Cháo 7 loại rau của người Nhật
Nana trong tiếng Nhật có nghĩa là số 7, kusa có nghĩa là lá cỏ, gayu có nghĩa là cháo gạo đặc và Nanakusa Gayu có nghĩa là “cháo 7 loại rau”. Nanakusa Gayu là một trong các món ăn ngày tết của Nhật Bản bên cạnh mochi, hay Ozoni là món ăn gồm bánh làm từ gạo, nước sốt làm từ cá, thịt gà và rau. “Osechi” là món ăn làm từ đậu đen, rong biển….được bầy rất cầu ḱ trên một cái khay sơn mài và rượu “Otoso”...Đặc biệt hơn các món ăn khắc Nanakusa Gayu thường được người Nhật ăn vào ngày 7/1 để cầu cho họ có sức khỏe tốt và xua đuổi tà ma trong năm tới.

[Only Registered Users Can See Links]
Osechi và ozoni trên bàn tiệc!

[Only Registered Users Can See Links]
Rượu Otoso

[Only Registered Users Can See Links]
Theo truyền thống Nanakusa Gayu được nấu từ gạo trắng kết hợp với bẩy loại rau cỏ mọc vào mùa xuân như: Tía tô đốm trắng, mùi tây, Củ cải trắng, cây tràng sao, cỏ tam giác, củ cải đỏ, rau khúc. Các nguyên liệu trên đều có thể mua tại quầy thực phẩm rau sạch và nhà thuốc Nam (tràng sao, cỏ tam giác) tại Việt Nam.

[Only Registered Users Can See Links]

Nghe tên các loại cây này lạ quá phải không các bạn? Nhưng đó đều là những loại rau giàu Vitamin, bổ dưỡng, và rất tốt cho sức khỏe nữa đấy. Tại Nhật Bản bạn có thể dễ dàng t́m thấy bẩy loại rau này tại các siêu thị, chúng được đóng thành hộp rất tiện lợi.

[Only Registered Users Can See Links]

Cách chế biến:
[Only Registered Users Can See Links]


source: [Only Registered Users Can See Links]

ajisai
09-25-2010, 10:19 PM
Hoa Phi Yến (Hoa Violet)

[Only Registered Users Can See Links]

Miêu tả:

Tên khoa học Delphimum ajacis L.
Hoa Phi yến c̣n có tên hoa chân chim v́ hoa trông giống như chân con chim hoặc Phi yến (chim yến đang bay) hay violét v́ hoa màu tím và c̣n có tên La-let hay đông thảo thuộc họ Mao lương (Ranuncolaceae) thực chất cũng có cây cho hoa màu hồng và trắng xong rất ít.
Nguồn gốc:

Theo truyền thuyết, hoa Phi yến đă mọc lên từ máu của Ajax, một chiến binh dự chiến thành Troy. Thất vọng trong việc phân chia chiến lợi phẩm, Ajax nóng tính chạy ra đồng và trút cơn giận dữ của ḿnh lên một đàn cừu, anh ta đă giết một số cừu trước khi thức tỉnh khỏi cơn điên loạn. Xấu hổ do chính cảnh tượng ḿnh gây ra, Ajax đă quay gươm tự sát. Máu của anh ta chảy đầy trên mặt đất và sau đó nảy ra những bông hoa, gọi là hoa Delphinium Ajacis.

Một số người lại cho rằng sở dĩ nó có tên gọi như vậy v́ h́nh dáng của nó trông giống cái mũi nhọn trên đầu con cá heo. Thật ra, mỗi người lại nh́n thấy h́nh dáng của loài hoa này thành một thứ khác nhau, v́ vậy nó c̣n được gọi là Larkspur v́ nó trông giống cái mào của con chim chiền chiện.

Ư nghĩa:
Loài hoa này mang ư nghĩa nhẹ nhàng với nét thanh thoát duyên dáng của bông hoa.

[Only Registered Users Can See Links]

[Only Registered Users Can See Links]

source: vnflower.vn

ajisai
09-27-2010, 08:26 PM
Tengu: truyền thuyết về thiên cẩu

Tengu (天狗 nghĩa là "thiên cẩu") là một trong những yêu quái nổi tiếng nhất ở Nhật Bản. Chúng sống chủ yếu ở những vùng rừng núi và đôi khi được coi trọng như thần thánh. Một số người c̣n tin rằng tengu là cầu nối giữa con người với thế giới thần linh.

[Only Registered Users Can See Links]

Nếu như Karasu Tengu trong xxxHolic gợi nhắc đến h́nh ảnh Cupid do vẻ dễ thương của chúng th́ trên thực tế loài tengu có vẻ ngoài dữ tợn hơn nhiều. Được mô tả như những sinh vật nửa người nửa quạ, các tengu sở hữu trên lưng một đôi cánh lớn với những lông vũ đen dài và bộ móng vuốt nhọn sắc. Những h́nh ảnh cổ xưa nhất về tengu gắn chúng với h́nh ảnh một loài chim săn mồi với cái mỏ chim lớn ngay giữa mặt. Đến khoảng thế kỷ 14, cái mỏ ấy dần được thay thế bởi một cái mũi đặc biệt lớn và dài cùng bộ mặt đỏ gay khiến chúng trông rất quái dị trong bộ quần áo của một nhà sư, nhưng cũng làm các tengu có phần giống con người hơn. H́nh ảnh này vẫn được duy tŕ đến ngày nay trên các mặt nạ và tượng ở đền thờ Shinto.

[Only Registered Users Can See Links]

Có khá nhiều tranh căi về nguồn gốc ra đời của tengu. Một số cho rằng tengu là một nhân vật trong truyện dân gian Trung Quốc du nhập vào Nhật Bản từ khá sớm. Tuy nhiên, theo kujiki (旧事紀 _ cổ sự kí), th́ Amanozako (天逆毎/ 天狗神), một nữ thần sinh ra từ Susanoo có nhiều điểm tương đối giống với những mô tả xưa nhất về tengu. Do đó, ta cũng có thể coi Amanozako là tiền thân của tengu ngày nay.

[Only Registered Users Can See Links]

Sở hữu đôi cánh lớn, một điều hiển nhiên là tengu bay rất giỏi. Chúng được cho là có thể bay từ chỗ này sang chỗ khác chỉ trong nháy mắt. Nó giải thích tại sao loài tengu sống chủ yếu trên núi cao mà ta vẫn thường nghe kể về việc có người gặp chúng trên đường.

[Only Registered Users Can See Links]

Tengu là những bậc thầy trong nghệ thuật biến h́nh. Cũng giống như nhiều loài yêu quái khác, chúng thích sử dụng khả năng này để trêu chọc, lừa gạt con người. Dễ thấy nhất là các tengu giả làm ẩn sĩ lang thang hoặc nhà sư để bày tṛ lừa gạt. Nhưng khác với các yêu quái khác, tengu ít khi giết người để ăn thịt. Các nạn nhân bị tengu bắt cóc sau một thời gian thường được trả về ở một địa điểm cách xa nơi bị bắt cóc và không nhớ ǵ về sự việc này. Hiện tượng này gọi là kami kakushi hay tengu kakushi. Do đặc điểm này nên đôi khi người nhà của những người bị mất tích do đi lạc cũng đổ lỗi cho tengu. V́ những tṛ quái ác như vậy, thỉnh thoảng ta vẫn thấy có người đem thức ăn để cúng cho tengu, hy vọng chúng để họ yên.

[Only Registered Users Can See Links]

Tuy có h́nh dạng khá giống người, tengu lại có cách sống khá giống loài chim. Chúng nở ra từ những quả trứng rất lớn và làm tổ ở các cây cổ thụ trên núi cao. Có điều lạ là hầu hết các truyện kể về tengu đều miêu tả chúng dưới h́nh dạng đàn ông. Tengu cái dường như không được nhắc đến.

[Only Registered Users Can See Links]

V́ tengu được cho là nở ra từ trứng nên ta có thể bác bỏ giả thuyết chúng kết hôn với con người như một số yêu quái khác. Vậy th́ có lư giải ǵ đặc biệt cho việc này không? Hay chỉ đơn giản là như một số người nói, tengu cái vẫn xuất hiện nhưng mọi người không nhận ra do chúng có h́nh dạng quá khác biệt?

[Only Registered Users Can See Links]
Cảnh Yuuko dùng quạt thổi bay watanuki đến chỗ zashiki warashi bị nhốt

Tengu không thích những người kiêu ngạo và ích kỷ, nhưng chính chúng lại có tiếng là kiêu ngạo, thù dai và rất dễ bị xúc phạm. Dù ưa thích cuộc sống khá tách biệt và yên ổn, các tengu lại rất thích can thiệp vào xă hội con người. Chính những tính cách này khiến chúng đôi khi bị gắn với h́nh ảnh của chiến tranh. Theo truyền thuyết, các tengu rất hiểu biết về các kỹ thuật chiến đấu. Minamoto no Yoshitsune (源 義経), một chiến binh nổi tiếng cuối thời Heian, tương truyền là một tay kiếm xuất sắc là do được Sōjōbō truyền thụ.

[Only Registered Users Can See Links]

V́ thế, nếu một lúc nào đó bạn có dịp đến thăm 2 ngọn núi Takao hay Kurama tại Nhật Bản và bất chợt gặp một người đàn ông có cái mũi dài đang đi trên đường th́ hăy cẩn thận. Đó rất có thể là một tengu giả làm người để đánh lừa bạn…


source: ichinews.acc.vn

ajisai
10-10-2010, 09:16 PM
Manga Shana oh Yoshitsune

[Only Registered Users Can See Links]

Tựa gốc tiếng Nhật: 遮那王義経 (Shanaou)
Năm phát hành: 2001 (chưa kết thúc)
Tác giả: Sawada Hirofumi
Thể loại: lịch sử, shounen
Nội dung:
Câu chuyện kể về một thiếu niên mồ côi tên là Hyouta, cậu thuộc một nhóm lưu diễn dạo. Một ngày nọ, cậu gặp một phụ nữ quư tộc giàu có là Tokiwa và bà đề nghị cả nhóm về biểu diễn ở nhà ḿnh. Nhưng ư định thực sự của bà không phải thế...

* Truyện này đă được xuất bản ở Việt Nam với tựa Khung trời tuổi thơ và Thiếu niên vương.


source: [Only Registered Users Can See Links]

akachan
10-14-2010, 01:25 PM
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trận Kurikara
Một phần của Chiến tranh Genpei

TrậnKurikara, c̣n được gọi là Trận Tonamiyama (砺波山) (Lệ Ba Sơn), là trận đánh quyết định trong Chiến tranh Genpei ở Nhật; trong trận đánh này, xu thế của cuộc chiến đă chuyển về phía có lợi cho gia tộc Minamoto.

[Only Registered Users Can See Links]

Bối cảnh

Minamoto no Yoshinaka, chỉ huy nhóm chiến binh từ tỉnh Shinano, đột kích vào đất đai của nhà Taira vài năm trước đó, trước cuộc đột kích, và cả cuộc chiến tranh, phải làm ra bộ đ́nh chiến 2 năm v́ nạn đói. Khi t́nh h́nh khá lên năm 1183, nhà Taira muốn trừng phạt Yoshinaka. Taira no Koremori, con trai của Taira no Shigemori và cháu nội của Taira no Kiyomori quá cố, chỉ huy chiến dịch này, ngoài ra c̣n có sự trợ giúp của Michimori, Tadanori, Tomonori, Tsunemasa và Kiyofusa. Quân đội của họ đă bị giảm sút nhiều v́ chiến trận và nạn đói, nhà Taira muốn tuyển thêm binh lính từ các vùng đất xung quanh, và làm việc đó với mối nguy hiểm của nạn đói trầm trọng hơn, v́ nhiều binh lính của họ là nông dân rời bỏ ruộng đồng. Mặc dù một vài sử kư ghi lại quân số của họ lên đến 100.000, đây là con số cao đến vô lư, và các nguồn đáng tin cậy hơn đă ước tính quân số khoảng gần 40.000.

Minamoto no Yoritomo, anh em họ của Yoshinaka, quay lưng chống lại ông để giành quyền đứng đầu toàn gia tộc vào tháng 3 năm 1183, nhưng bị Yoshinaka thuyết phục dừng lại và rút lui, với lỹ rằng họ nên đồng lóng chống lại nhà Taira. Để đảm bảo cho thành ư của ḿnh, Yoshinaka gửi con trai ḿnh, Yoshitaka, đến Kamakura làm con tin. Không lâu sau khi đó, Yoshinaka nhận được tin về quân đội của Koremori, và tiến ra ứng chiến, cùng với bác ông là Minamoto no Yukiie và nhóm người được goi là shitennō, bốn thuộc hạ trung thành nhất của ông: Imai Kanehira, Higuchi Kanemitsu, Tate Chikatada, Nenoi Yukichika.

Trận đánh

Tiến đến những con đèo nối phía Tây Honshū với phía Đông, Koremori chia quân đội của ḿnh làm hai đạo, một đạo tiến đền đèo Kurikara rồi đến Tonamiyama, đạo khác tiến vào tỉnh Etchū qua tỉnh Noto hướng lên phía Bắc. Minamoto no Yoshinaka, thấy rằng quân Taira đang tiến qua đèo, ra lệnh cắm một số lượng lớn cờ trắng (trắng là màu của gia tộc Minamoto) trên ngọn đồi cách đó vài kilomet để đánh lừa quân địch rằng quân đội của ông lớn hơn thực tế nhiều. Đây là chiến thuật tŕ hoăn, với mục đích giữ chân quân Taira trên đèo cho đến khi đêm xuống, để phần thứ hai trong chiến lược của ông có thể thực hiện được.

Ông chia quân làm ba đường, đưa một đạo tấn công vào sườn quân Taira, một đạo dưới chân đèo, là đội mai phục, và đạo thứ ba ông đi cùng và đánh vào trung tâm. Để che dấu những hành động này, Yoshinaka đánh lừa quân địch bằng một trận đánh rất thông thường, bắt đầu với việc bắn qua lại tên hao thỉ (loại cung tên phát ra tiếng khi bắn mang tính lễ nghi trong các trận chiến của Nhật thời trung cổ). Sau đó là trận đánh một chọi một, thứ mà nhà Taira rất mong muốn, với hy vọng danh được vị trí cho ḿnh trong lịch sử và những thiên anh hung ca thường có sau những trận chiến kiểu như thế này. Trong nhiều sử kư, đặc biệt là Heike monogatari, và có thể là trong sự thực lịch sử, nhà Taira không quen với chiến tranh như nhà Minamoto, kiệt sức hơn, và thích hợp hơn với cuộc sống trong triều đ́nh. Do đó, cơ hội để tham dự các trận chiến chính quy hấp dẫn nhiều chiến binh nhà Taira muốn đem ra thi triển vơ thuật mà họ đă học trước đó, theo cách quy chuẩn thích đáng nhất.

Trong khi đó, quân đội của Yoshinaka chiếm lính vị trí, và khi mặt trời lặn, quân Taira thấy rằng sau lưng ḿnh có một đội quân nhà Minamoto, cắm nhiều cờ hơn so với số cờ của đội quân này, lại môt lần nữa tạo ra ảo giác về số lượng quân lớn hơn. Trung quân của Yoshinaka, đă tập trung một bày ḅ, giờ thả chúng xuống đèo, thẳng vào vị trí quân Taira, với đuốc cháy trên sừng của chúng. Rất nhiều binh lính nhà Taira xông vào đàn ḅ, trong khi nhiều người khác chỉ đơn giản bị quét khỏi con đèo, và tử nạn trên những vách đă lởm chởm phía dưới. Rất nhiều người cố rút chạy, nhưng bị lạc trong nhiều con đường, bị quân lính nhà Minamoto đợi sẵn kết liễu, hay rơi xuống các hẻm núi.

Số quân Taira c̣n sống sót, hoảng loạn, mất tinh thần, và chịu tổn thất nặng nề, bỏ chay. Đây là trận đại thắng của nhà Minamoto, dẫn đến việc nhà Taira phải từ bỏ Kyoto. Vài tháng sau trận Kurikara, nhà Taira, cùng với Thiên hoàng Antoku, rút chạy đến Shikoku.

[Only Registered Users Can See Links]

Minamoto no Yoshinaka Ason và 4 thuộc hạ trung thành nhất (theo chiều kim đồng hồ: Imai Shirô Kanehira, Tate Rokurô Chikatada, Higuchi Jirô Kanemitsu (cầm búa) và Nenoi Daiyata Yukichika

ajisai
10-16-2010, 08:08 PM
Tên của một vơ sĩ cấp tỉnh, ví dụ nhu Imai no Shirou Kanehira, bao gồm phần họ bắt nguồn từ tên địa phương mà vơ sĩ đó cư ngụ (trong trường hợp này là chữ Imai), tiếp theo là biệt hiệu chỉ thứ tự sinh ra trong nhóm anh em trai (Shirou, người con thứ tư) và tên đích danh (Kanehira). Từ "no" (nghĩa là "của", hoặc "từ") được dùng một cách không nhất quán. Những người anh em sinh ra ở các vùng khác nhau có thể mang họ khác nhau, ví dụ Imai no Shirou Kanehira và Higuchi no Jirou Kanemitsu. Các biệt hiệu phổ biến nhất chỉ người con trai từ thứ nhất đến thứ mười một, là Tarou, Jirou, Saburou, Shirou, Gorou, Rokurou, Shichirou, Hachirou, Kurou, Jurou và Juuichirou. Một vơ sĩ có thể có cách đặt tên khác, thường được rút gọn, theo địa vị trong triều đ́nh hay chức vụ, giai cấp hiện tại hoặc trước đây của ḿnh hay người họ hàng nam giới nào đó (Uma-no-jou, Zenji, Shouji...); hoặc theo thuật ngữ Kanja, được các thiếu niên sử dụng khi thực hiện lễ thành nhân; hoặc một tên hiệu đặc biệt để tỏ ḷng tôn kính là Onzhoushi, như trong trường hợp con trai của thủ lĩnh Minamoto là Yoshitsune; hoặc theo nhiều cách khác nữa.


nguồn: Helen Craig McCullough (dịch giả tác phẩm The Tale of the Heike)

ajisai
10-25-2010, 11:12 AM
Ryou

[Only Registered Users Can See Links]

Tựa gốc tiếng Nhật: リョウ
Ngày phát hành: 01.01.1996
Tác giả: UEDA Rinko
Thể loại: lịch sử, Shoujo, t́nh cảm, phiêu lưu, hành động
T́nh trạng: Đă hoàn tất
Tóm tắt nội dung:
Ryou luôn nghĩ rằng ḿnh là một nữ sinh trung học b́nh thường của thế giới hiện đại, cho đến khi một tu sĩ cao lớn - vốn là chiến binh huyền thoại - bỗng xuất hiện từ đâu không rơ. Anh ta tự xưng là Benkei, người đă đánh bại 999 binh sĩ thời Heian và cho rằng cô chính là Ushiwakamura - chiến binh thứ 1000 sẽ đánh bại Benkei và trở thành chủ nhân của hắn!
Nhưng, vấn đề là Ushiwakamura là đàn ông! Và cả Benkei lẫn Ushiwakamura đều là những cái tên đến từ vương triều phong kiến Nhật Bản thế kỉ 13! Cùng lúc đó, Ryou bắt đầu nhớ lại thân phận thật sự của ḿnh...
NXB chính thức: Shueisha (Nhật Bản)

(Nguồn: ichinews)

* Truyện đă phát hành ở Việt Nam với tựa đề Phương Đinh Lăng


source: acc.vn/wiki

akachan
10-27-2010, 11:38 AM
Đây là h́nh Phương Đinh Lăng và B́nh Duy Thịnh mà một người bạn tên Yaki vẽ tặng ka, h́nh scan xong th́ được yue chỉnh lại

[Only Registered Users Can See Links]

đúng là iu anh là định mệnh của ḿnh :D h́nh này vẽ hồi ḿnh học cấp 3 đấy, sau khi biết th́ ra Phương Đinh Lăng là Yoshitsune, ḿnh lục lại tranh đem scan ^^

ajisai
02-22-2011, 10:17 PM
Ep 22


Tam Chủng Thần Khí (ba món vật quư nhất Nhật Bản)


[Only Registered Users Can See Links]


Tam Chủng Thần Khí (tiếng Nhật:三種の神器, Sanshu no Jingi / mikusa no kandakara, ba thứ quư báu nhất) c̣n được biết đến là ba báu vật thần thánh của Nhật Bản tượng trưng cho ngôi báu của Thiên hoàng. Chúng bao gồm thanh gươm Kusanagi (草薙剑, thảo thế kiếm), chiếc gương Yata no kagami (八咫镜, bát chỉ kính), và viên ngọc Yasakani no magatama (八尺瓊曲玉, Bát xích quỳnh khúc ngọc). Ba món đồ này tượng trưng cho: sự dũng cảm (thanh kiếm), sự khôn ngoan (chiếc gương) và ḷng nhân từ (viên ngọc).

Bởi tính chất thần thoại của ba món đồ này, địa điểm cất giữ chúng không được xác nhận. Thế nhưng, người ta nghĩ rằng thanh gươm được cất giữ ở đền Atsuta ở Nagoya, chiếc gương được cất giữ ở hoàng cung Kōkyo tại Tōkyō, chuỗi ngọc th́ được cất giữ ở Thần cung Ise ở tỉnh Mie. Ít nhất một trong ba món đồ không phải là phiên bản gốc.

Theo truyền thuyết, ba vật này từng thuộc vật sở hữu của các vị thần trong Thần Đạo là Susanoo và Amaterasu. Truyền thuyết kể rằng thần biển và gió băo Susanoo thường hay bất ḥa với Thiên Chiếu Đại Thần Amaterasu nên hai người thường đuổi đánh nhau. Một lần Susanoo bị Amaterasu đuổi phải chạy ngang qua tỉnh Izumo, nơi ông bắt gặp hai thần đất. Hai vị thần đất này lúc đó lại bị Yamata-no-Orochi (八岐の大蛇, Bát Kỳ Đại Xà) quấy nhiễu và c̣n bắt đi mất bảy người con gái lớn của họ. Susanoo, sau khi hỏi cưới cô con gái c̣n lại là Kushi-inada-hime (奇稲田姫) bèn làm ra tám tám b́nh rượu sake để dụ cho con rắn uống say rồi giết chết. Sau đó ông cắt xác con rắn làm nhiều khúc. Từ đuôi của nó xuất hiện một thanh kiếm chính là thần kiếm Kusanagi.

Một lần khác, Susanoo chọc tức Thiên Chiếu Đại Thần Amaterasu khiến bà vô cùng giận giữ và tự nhốt ḿnh trong hang khiến cho thế gian ch́m trong bóng tối vô tận. Khi đó Ame-no-Uzume, nữ thần của lễ hội và hạnh phúc, bày mưu treo một một chiếc gương bằng đồng lên cây, khoác hoa lá lên ḿnh, đeo một chuỗi ngọc rồi nhảy múa trước hang. Nhiều vị thần khác bị thu hút cười nói ồn ào khiến cho Amaterasu ṭ ṃ bước ra khỏi hang. H́nh ảnh bà phản chiếu trong gương đồng đă khiến thế gian không c̣n ch́m trong bóng tối nữa, và chiếc gương ấy trở thành chiếc gương thần Yata no kagami, c̣n chuỗi ngọc Ame-no-Uzume sử dụng trong cuộc nhảy múa ấy th́ trở thành Yasakani no magatama (người ta tin rằng hiện nay nó chỉ c̣n lại duy nhất 1 viên). Về phần Susanoo, ông t́m đến và tạ lỗi với Amaterasu bằng cách tặng bà thần kiếm Kusanagi. Sau này cháu của Amaterasu là Ninigi-no-Mikoto khi ra đi thành lập đất nước Nhật Bản đă mang theo chúng. Từ đó, ba vật này trở thành biểu tượng của Hoàng gia Nhật Bản.

Tuy nhiên sự tồn tại của những món đồ này vẫn c̣n bí mật. Điều này chưa xác định được là do chỉ có các Thiên hoàng và một số thầy tế của các ngôi đền được phép tiếp xúc với ba báu vật này, và tới nay cũng không có bức ảnh hay bức vẽ nào từng được chính thức công bố. Bằng chứng gián tiếp nổi bật nhất về sự tồn tại của các món đồ này chính là các sắc chỉ của Thiên hoàng Hirohito cho viên chưởng quan Đại Nội Kido Kōichi vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945); trong đó vị Thiên hoàng này ra lệnh phải bảo vệ Tam Chủng Thần Khí bằng mọi giá.


* Thanh gươm Kusanagi (草薙剑, thảo thế kiếm)

[Only Registered Users Can See Links] [Only Registered Users Can See Links]

Đầu tiên phải kể đến Kusanagi-no-Tsurugi (草薙の剣). Thanh thần kiếm này ban đầu có tên là Ame-no-Murakumo-no-Tsurugi (天叢雲剣).Tương truyền, đây chính là thanh kiếm nổi tiếng hiện ra từ đuôi con măng xà tám đầu trong truyền thuyết. Theo Cổ sự kí, Susanoo_vị thần biển và gió băo sinh ra từ mũi của Izanagi sau khi trở về từ Yomi_thường bất hoà với nữ thần mặt trời Amaterasu. Một lần, khi bị nữ thần đuổi đi ngang qua tỉnh Izumo, Susanoo bắt gặp hai thần đất. Khi đó, họ đang bị một con rắn tám đầu là Yamata-no-Orochi (八岐の大蛇) quấy nhiễu và bắt mất bảy người con gái lớn. Sau khi hỏi cưới cô con gái c̣n lại là Kushi-inada-hime (奇稲田姫), Susanoo lập mưu dùng tám b́nh rượu sake để dụ cho con rắn say rồi giết chết. Xác rắn sau đó bị ông cắt ra thành nhiều khúc. Từ đuôi của Orochi xuất hiện một thanh kiếm chính là thanh thần kiếm Kusanagi.

[Only Registered Users Can See Links]
[Only Registered Users Can See Links]

Cùng với Yasakani no magatama và Yata no kagami, thanh gươm Kusanagi được cất giữ trong hoàng cung. Đến thời thiên hoàng Sujin th́ ba thần khí này được cất giữ trong đền Kusanui dưới sự trông nom của một thành viên hoàng tộc. Trong hoàng cung lúc đó chỉ giữ những bản sao do thiên hoàng đặt làm. Năm 668, Kusanagi-no-Tsurugi bị một nhà sư Triều Tiên lấy trộm nhưng trên đường về tàu gặp băo nên không thành công. Thanh gươm sau đó quay trở lại Nhật Bản. Đến năm 686, dưới thời thiên hoàng Temmu, thanh gươm được đưa về đền Atsuta ở Nagoya nơi được cho là lưu giữ thanh gươm đến tận ngày nay.


* Chiếc gương Yata no kagami (八咫镜, bát chỉ kính)

[Only Registered Users Can See Links]

Vật thứ hai là Yata no Kagami (八咫鏡), một chiếc gương đồng tám cạnh được tin là có khả năng phản chiếu bản chất thực sự của một linh hồn. Do đó, chiếc gương c̣n được coi là biểu tượng của sự thông thái hoặc trung thực.

[Only Registered Users Can See Links]
Hang đá Ama no iwato

[Only Registered Users Can See Links]

Theo thần thoại Nhật Bản, trong một lần tranh chấp Susanoo đă khiến nữ thần mặt trời tức giận tự nhốt ḿnh trong hang. Không một ai có thể thuyết phục nữ thần ra ngoài. Mọi vật ch́m trong bóng đen vô tận. Khi đó, Ame-no-Uzume , nữ thần của lễ hội và hạnh phúc đă treo một chiếc gương bằng đồng lên cây, khoác hoa lá lên ḿnh rồi nhảy múa trước cửa hang, thu hút rất nhiều các vị thần tới xem. Đám đông ồn ào đó khiến Amaterasu ṭ ṃ bước ra khỏi hang, ánh sáng rực rỡ của bà phản chiếu trong gương xóa tan bóng tối. Kể từ đó, h́nh ảnh gương Yata no Kagami trở thành h́nh ảnh tượng trưng cho nữ thần mặt trời Amaterasu. Sau này, khi thanh gươm Kusanagi được chuyển ra đền Atsuta, gương thần cũng được đưa về cất giữ tại đền Ise, một trong những ngôi đền lớn nhất Nhật Bản được mệnh danh là ngôi nhà của Amaterasu.


* Viên ngọc Yasakani no magatama (八尺瓊曲玉, Bát xích quỳnh khúc ngọc)

[Only Registered Users Can See Links]

Cuối cùng là Yasakani no Magatama (八尺瓊曲玉 / 八坂瓊曲玉) _ một miếng ngọc bích có h́nh dạng giống như hitodama_những quả cầu linh hồn. Được sử dụng cùng với chiếc gương Yata no Kagami khi Ame-no-Uzume nhảy múa trước cửa hang, nó đại diện cho sự hào phóng độ lượng. Nhiều người tin rằng Yasakani no Magatama ban đầu là một chuỗi hạt nhưng v́ lư do nào đó mà chỉ c̣n lại một mảnh ngọc lưu giữ tại Tokyo như ngày nay.


credit to: wikipedia.org & [Only Registered Users Can See Links]

ajisai
02-22-2011, 11:05 PM
Ep 21

Thạch/ thạch cao (石/石高 - koku) là một đơn vị đo lường của Nhật Bản, tương đương với 10 xích khối (尺 - shaku). Theo định nghĩa này, 3.5937 thạch bằng với 1 mét khối, tức là 1 thạch gần bằng 278.3 lít. Từ "thạch" được định nghĩa là một đơn vị đo lường chỉ số lượng gạo đủ dùng cho một người trong một năm (c̣n thăng (枡 - masu) là số gạo của một người dùng trong một ngày). Một thạch gạo nặng 150kg (= 330 pounds).
Năm 1891, một đơn vị "thạch" nhỏ hơn sẽ bằng 240100⁄1331 lít, tức là xấp xỉ 180.39 lít (hoặc khoảng 5 giạ, tương đương 48 gallon). Thời kỳ Edo trong lịch sử Nhật Bản, mỗi thái ấp (藩 - han) đều được đánh giá mức độ giàu có, và đơn vị để đánh giá chính là thạch. Thái ấp nhỏ nhất là 10,000 thạch, và Kaga han là lớn nhất, được gọi là "lănh địa một trăm vạn thạch" (chiếm giữ tổng cộng 1,025,000 thạch). Nhiều samurai, kể cả hatamoto, đều nhận lương bổng bằng thạch, nhưng cũng có một số ít nhận tiền lương. Ở vùng Tōhoku và Hokkaidō, nơi đây không thể trồng trọt lương thực, mức độ kinh tế vẫn được tính bằng thạch nhưng được giữ nguyên từ năm này sang năm khác. Do đó, một số thái ấp có tiềm lực kinh tế mạnh hơn so với số thạch mà họ công bố, giúp họ tạo nguồn quỹ cho các kế hoạch phát triển.
Thạch cũng được dùng để tính xem một chiếc thuyền chở được bao nhiêu gạo. Thuyền nhỏ chở được 50 thạch (7.5 tấn), trong khi một chiếc thuyền lớn nhất có thể chở được 1,000 thạch (150 tấn). Những chiếc thuyền lớn nhất thậm chí c̣n lớn hơn cả tàu chiến mà Shogunate sở hữu.
Thời Meiji (1868–1912), các đơn vị của Nhật như thạch đă bị băi bỏ, hệ thống đo lường bằng mét bắt đầu được sử dụng.
Hyakumangoku Matsuri (Lễ hội một trăm vạn thạch) ở Kanazawa, Nhật Bản, là để mừng ngày ngài Maeda Toshiie đến đây vào năm 1583, dù thực sự, măi đến trận chiến Sekigahara năm 1600 th́ tài sản của ngài vẫn chưa đến một trăm vạn.
Đơn vị thạch vẫn c̣n được sử dụng phổ biến trong công nghiệp ngành lâm nghiệp ở Nhật Bản.


source: [Only Registered Users Can See Links]

ajisai
06-24-2011, 08:40 PM
Kajiwara Kagesue

Kajiwara Kagesue (梶原 景季?, 1162 - February 6, 1200), c̣n gọi là Kajiwara Kagetoki, là một samurai phục vụ dưới trướng gia tộc Minamoto trong cuộc chiến Genpai ở cuối thời Heian tại Nhật Bản.
Heike Monogatari đă ghi lại giai thoại về cuộc tranh tài thân ái của ông và Sasaki Takatsuna trước trận chiến thứ 2 ở Uji. Cưỡi trên lưng con ngựa đen Surusumi của Yoritomo, ông cùng Takatsuna thi vượt qua sông Uji.
Kagesue chết ở Suruga dưới tay các thuộc hạ của Minamoto no Yoriie.


source: wikipedia

ajisai
06-24-2011, 08:57 PM
Trận Ichi no Tani


* Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

[Only Registered Users Can See Links]

Ichi-no-Tani (Nhật: 一の谷, Ichi-no-Tani?) là một thành của nhà Taira tại Suma, ở về phía Tây của tỉnh Kobe ngày nay. Nó nằm trên dải bờ biển hẹp, giữa núi ở phía Bắc, và biển ở phía Nam. Địa thế này pḥng thủ tốt, nhưng cũng rất khó đưa quân vào thành. Minamoto no Yoshitsune chia quân làm 3 đường. Lực lượng của Noriyori tân công quân Taira tại đền Ikuta, một ngôi đền bằng gỗ cách đó không xa về phía Đông. Cánh thứ hai, không quá 100 kỵ binh, leo lên núi, nh́n xuống thành của nhà Taira từ phía Bắc, trong khi số c̣n lại tấn công cùng Yoshitsune, từ phía Tây, dọc bờ biển. Vào giờ đă định, cả ba cánh đều tiến quân, bao vây thành, và nổi lửa đốt nó. Rất nhiều binh lính Taira chạy lên các con thuyền của họ, và đi đến Yashima, nhưng Taira no Tadanori bị giết, và Shigehira bị bắt.
Ichi-no-Tani là một trong những trận đánh nổi tiếng nhất trong Chiến tranh Genpei, phần lớn là v́ riêng trận đánh đă diễn ra ở đây. Benkei, có lẽ là tăng binh nổi tiếng nhất, chiến đấu cùng với nhà Minamoto nơi đây, và rất nhiều chiến binh tài giỏi và quan trọng của nhà Taira cũng có mặt ở đó. Cái chết của Taira no Atsumori mới 16 tuổi về tay Kumagai no Naozane là một đoạn đặc biệt nổi tiếng trong 'Heike Monogatari'. Nó đă được chuyển thể lên sân khấu kịch noh và kabuki, và trong văn chương đại chúng, Oda Nobunaga thường được tả lại là biểu diễn vở kịch noh khi sắp chết ("ningen goju nen geten no uchi wo kurabureba, yumemaboroshi no gotoku nari"). Có thể nói rằng, cái chết của Atsumori là một trong những trận đấu tay đổi nổi tiếng nhất trong Lịch sử Nhật Bản.
Ichi-no-Tani là lần cuối cùng c̣n ghi lại được về việc nỏ được sử dụng trong các cuộc hăm thành ở Nhật Bản.

[Only Registered Users Can See Links]


* lichsuvn.info

Trận Ichinotani là một trong những trận đánh nổi tiếng trong lịch sử Nhật Bản. Trận đánh này nằm trong cuộc chiến Genpei War, giữa hai ḍng họ Minamoto và Taira. Hai ḍng họ này từng đánh nhau tơi bời trước đây và thất bại thuộc về họ Minamoto. Nhưng sau khi Kiyomori, người đứng đầu họ Taira qua đời, những người con ḍng họ Minamoto lần lượt khởi binh chống lại họ Taira.
Minamoto no Yoshitsune, con trai thứ chín của Minamoto no Yoshitomo (người thất bại dưới tay Taira no Kiyomori trước đây), cùng với anh trai Minamoto no Yoritomo là thủ lĩnh của quân đội ḍng họ Minamoto. Chính Yoshitsune đă tiến quân vào kinh thành Kyoto, và sau đó cùng với Minamoto no Noriyori tấn công quân Taira tại Ichinotani. Noriyori đưa một cánh quân tấn công mặt trước, c̣n Yoshitsune đưa một cánh quân tới dăy núi mặt sau.
Quân Taira không pḥng bị mặt sau, bởi họ không tin là có thể bị tấn công từ vách núi hiểm trở đó. Quân lính của Yoshitsune khi nh́n thấy vách núi đó cũng nghĩ vậy. Họ đề nghị Yoshitsune thay đổi kế hoạch.
Nhưng Yoshitsune vẫn quyết định tấn công. Ông ta có nghe dân địa phương nói chuyện rằng loài dê núi có thể trèo xuống vách đá đó. Và ông ta đă phát biểu một câu nổi tiếng: ""Deer are four-legged, four-legged horses, our people continue", tạm dịch "dê có bốn chân, ngựa cũng có bốn chân, chúng ta có thể tiếp tục".

[Only Registered Users Can See Links]

Thật bất ngờ, đội quân của Yoshitsune đă làm được điều đó, tấn công vào sau lưng quân Taira đang lo đối phó với đội quân của Noriyori ở mặt trước. Quân Taira thảm bại, c̣n tên tuổi Yoshitsune vang danh Nhật Bản.

[Only Registered Users Can See Links]

akachan
06-26-2011, 06:53 PM
Cuộc vây hăm Hōjūjidono năm 1184 là một phần của Chiến tranh Genpei Nhật Bản, và là một nhân tố quyết định trong cuộc giao chiến giữa Minamoto no Yoshinaka và những người anh em họ Yoritomo và Yoshitsune để kiểm soát gia tộc Minamoto. Từ lâu, Yoshinaka đă có tham vọng nắm đại quyền của gia tộc từ tay người anh em họ. Khi trở về Kyoto sau chiến thắng tại Shinohara và Kurikara, ông quyết định tách khỏi gia tộc ḿnh, âm mưu cùng với Minamoto no Yukiie bắt cóc Thiên hoàng Go-Shirakawa, và tự ḿnh thiết lập triều đ́nh, ở các tỉnh phía Bắc Kyoto. Nhưng, cuối cùng Yukiie không giúp đỡ Yoshinaka thực hiện kế hoạch này. Yoshinaka tấn công Hōjūjidono (c̣n gọi là điện Hōjūji), đốt cháy nó, giết những người kháng cự, và bắt giữ Thiên hoàng Go-Shirakawa. Ông bị một số quưt tộc và tăng binh từ Núi Hiei và Miidera chống lại, nhưng cuối cùng vẫn ra khỏi thành phố với thắng lợi trong tay, và cả Thiên hoàng Go-Shirakawa nữa. Tuy vậy, vào lúc này, quân đội nhà Minamoto, dưới quyền chỉ huy của Yukiie, Yoritomo, Yoshitsune, và Noriyori đang ở xung quanh kinh đô. Yoshinaka chạy đến cây cầu bắc qua sông Uji, nơi đây ông sẽ chiến đấu trong Trận Uji lần thứ hai.

[Only Registered Users Can See Links] o